NDĐT- Có bốn di tích liên quan đến thân thế, sự nghiệp Phan Đình Phùng và phong trào Cần Vương đã được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, gồm: Căn cứ địa Vụ Quang, Nhà thờ Phan Đình Phùng, Khu mộ Phan Đình Phùng, Sơn phòng Phú Gia. Sau nhiều năm tháng bị lãng quên, số phận của những di tích này đang dần một mai theo dấu ấn thời gian... Kỳ 1: Hoang sơ nơi “tụ binh dấy
nghĩa” Sau một hồi săm soi lật đi lật lại tờ giấy “thông hành” của ủy ban nhân dân
huyện Vũ Quang cho phép tôi vào làm việc tại khu vực biên giới, chàng lính trẻ ở
trạm kiểm soát biên phòng Đồn 567 hạ một câu: “Từ đây vào đến thành cụ Phan còn
hơn hai chục cây số. Muốn vào thăm cổng thành phải lội bộ hơn hai cây số đường
rừng, bọn em đi tuần tra suốt ngày mà nhiều lúc còn bị lạc. Nếu không nhờ được
người dẫn đường thì em khuyên anh nên quay xe trở về cho sớm”. Câu nói của anh lính trẻ càng kích thích trí tò mò của tôi. Đem nguyện vọng
của mình trình bày với anh Nguyễn Đình Tiến, bí thư đảng ủy xã Hương Quang, anh
Tiến động viên tôi đi và cử anh Hà Văn Yên, ủy viên văn hóa xã làm “hoa tiêu”
dẫn đường. Đến bản Kim Quang, chúng tôi được ông Bùi Huy Lợi, phó chủ tịch hội
đồng nhân dân xã kiêm bí thư chi bộ bản, người được mệnh danh là “thổ địa” của
vùng này, vui vẻ nhận lời đi cùng. Ba chúng tôi ngược tỉnh lộ 5 hướng về phía đường biên. Con sông Ngàn Trươi
nơi thượng nguồn cùng song hành với tỉnh lộ 5, mùa này nước sông rút đến tận
đáy, phô ra những bãi đá lởm chởm như trận đồ bát quái. Thỉnh thoảng dòng chảy
bị những tảng đá lớn chắn ngang tạo ra các thung rộng, là nơi trú ngụ lý tưởng
của lũ cá mát, cá chình. Ông Lợi chỉ vào đám người đang phì phò lặn ngụp: Dân bản mình đi bắt cá đấy.
Trước đây cá mát, cá chình nhiều vô kể, một người mỗi ngày có thể bắt được cả
chục cân. Từ khi hai loại cá này trở thành đặc sản trong thực đơn các nhà hàng
thì lượng cá cũng ngày càng cạn kiệt. Dân bản Kim Quang từ hơn nửa thế kỷ nay
chủ yếu sống tự cung tự cấp, và gần như sống biệt lập với miền xuôi, vì giao
thông vùng sơn cước quá hiểm yếu. Hơn hai năm nay, khi có dự án nối dài tỉnh lộ 5 ra sát biên giới, và từ cuối
năm ngoái đến nay, Kim Quang có điện lưới quốc gia thì ánh sáng văn minh mới
thực sự về với bà con. Khi con đường này chưa được nối dài, muốn vào thăm thành
cụ Phan phải lội suối vượt rừng hơn nửa ngày đường, còn hiện nay ô tô đã có thể
vào gần đến chân thành. Chúng tôi dừng xe thắp hương tại nhà bia tưởng niệm trước khi vào thành. Nhà
bia được xây xong tháng 7 năm 2002, nằm cạnh tỉnh lộ 5 và cách chân thành hơn
hai cây số về phía đông, tức là cách thị trấn Hương Đại gần bốn chục cây số,
cách bản Kim Quang hơn một cây số về phía tây. Tương truyền nơi đây là đồn tiền
tiêu của chiến khu Vụ Quang. Người dân ở đây vẫn gọi nhà bia là đền thờ Phan Đình Phùng, và ngay trên tấm
biển chỉ dẫn giao thông cắm gần điểm giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh và tỉnh lộ
5 ở thị trấn Hương Đại vẫn đề như thế. Thực ra đây chỉ là một nhà bia tưởng
niệm, chỉ “thờ” độc nhất một chiếc “Bia kỷ niệm khởi nghĩa Hương Khê và chiến
thắng Vũ Quang” do giáo sư Đinh Xuân Lâm soạn thảo nội dung, một mặt khắc Việt
ngữ, một mặt khắc Pháp ngữ khá sắc nét. Nội dung ghi trên bia nêu bật ý nghĩa cuộc khởi nghĩa Hương Khê và công trạng
của các vị lãnh tụ với lời kết: “Tinh thần yêu nước chống xâm lược của Phan Đình
Phùng, Cao Thắng và nghĩa quân Hương Khê đời đời sống mãi!”. ![]() Thác nước và hai hòn đá canh phòng cách cổng chính thành cụ Phan 300m. Nơi đèo heo hút gió này, nhà bia tưởng niệm gây một cảm giác vừa linh thiêng,
vừa u uẩn, và có phần hoang sơ như một cái miếu hoang do thiếu hơi ấm dấu chân
người. Ông Lợi cho tôi biết, nhà bia được xây dựng nhờ nguồn vốn tôn tạo Di tích
lịch sử – văn hóa quốc gia do Bảo tàng tỉnh hỗ trợ 50 triệu đồng. Đây là công
trình duy nhất được xây dựng ghi nhớ công ơn nghĩa quân kể từ khi khu di tích
này được xếp hạng cấp quốc gia. Hai chiếc xe máy Long-cin tiếp tục đưa ba chúng tôi tiến sâu hơn về phía đại
ngàn. Càng đi núi rừng càng hun hút, mênh mang. Đi tiếp chừng hai cây số, chúng
tôi gặp dãy núi đá dựng đứng kéo dài theo hướng đông-nam. Đã đến chân thành -
ông Lợi ra hiệu dừng xe. Giấu xe vào một hốc cây ven đường, ba chúng tôi nhanh chóng mất hút giữa rừng
già. Tôi như bị lạc giữa mê hồn trận, thực sự choáng ngợp trước vẻ nguyên sơ của
các tầng thảm thực vật nguyên sinh. Chắn ngang lối đi là những gốc cây cổ thụ
mấy người ôm không xuể. Tầng thấp hơn là chằng chịt cây dây leo đan kín trên
đầu. Phía bên phải lối đi là vách đá dựng đứng đen sì hàng ngàn năm tuổi, là một
trong hai dãy núi mà tướng quân Cao Thắng đã chọn để xây dựng Khu căn cứ Vụ
Quang. Chúng tôi lọt dần vào “gọng kìm” của hai bức tường thành nằm ở hai phía tả
ngạn và hữu ngạn sông Rò Vền. Con sông này chảy ở phía tây thành gặp con sông Cà
Tỏ chảy từ phía đông thành hợp lưu tạo nên đầu nguồn sông Ngàn Trươi. Nằm cách ngã ba sông hơn một cây số về phía Nam là bãi Cà Tỏ. Tương truyền,
đây chính là nơi Phan Đình Phùng và Cao Thắng tập luyện nghĩa quân bắn súng,
cưỡi ngựa và các kỹ năng chiến đấu trước khi được phân về các đồn quân. Theo các nhà nghiên cứu, bãi Cà Tỏ cũng nằm trong khu vực diễn ra trận đánh
nổi tiếng nhất của nghĩa quân – trận “sa nang úng thủy”. Bãi tập ấy hôm nay
trước mắt tôi chỉ là bạt ngàn lau lách, lau phất cờ xám ngả nghiêng trong cơn
gió khoáng đạt chốn biên thùy. Cuộc hành trình của chúng tôi vẫn tiếp diễn. Non một giờ tầm nhìn bị tán lá
rừng che lấp, mắt tôi bỗng vỡ òa khi chân bước chông chênh bên lưu vực sông Rò
Vền. Chỉ còn cách cổng thành 300 mét – ông Lợi cho biết. Chúng tôi leo lên hai
phiến đá lớn nằm ở phía tả ngạn ngay chân dãy tây thành chắn ngang lối đi. Ông
Lợi ném một hòn đá xuống vực, bọt tăm sủi lên mấy phút mới thôi. Mặt nước gợn
sóng lăn tăn kích thích lũ cá mát nhảy lên đớp mồi lao xao. Tương truyền, hai phiến đá này là vị trí canh gác của nghĩa quân, nên người
dân thường gọi là “hai phiến đá canh phòng”. Từ đây có thể phóng tầm mắt quán
xuyến hết lối vào cổng thành, cả dãy tây và đông thành. Đảo mắt nhìn quanh một
lượt, bất giác như có một luồng điện chạy dọc sống lưng tôi. Vẻ huyền bí của núi
rừng càng trở nên bí hiểm hơn trong một không gian hẹp, với sự hội tụ của núi
cao, vực sâu và cảnh hoang dã nguyên thủy của thảm thực vật. Sau ít phút nghỉ chân, tôi lại ngoan ngoan lần theo dấu chân của ông Lợi, anh
Yên làm nhiệm vụ “khóa đuôi”. Những phiến đá mồ côi nhẵn thín do sự bào mòn của
dòng chảy tạo cho ta cảm giác chống chếnh khi đặt chân lên. Gần ba mươi phút sau
thì bàn tay tôi chạm được vào vách đá cổng chính của thành. Cảm xúc dâng trào
làm cay cay sống mũi. Cổng thành rộng chừng chục mét, là điểm nối giữa dãy đông
và tây thành. Cả một rừng cây choán hết lối vào thành. Phía sau cổng thành là
mặt thành, là căn cứ của nghĩa quân. Tương truyền, đây là nơi tướng quân Cao
Thắng đã xây dựng sở chỉ huy, nhà hậu cần và hệ thống kho quân lương.., dấu tích
hiện nay còn lại là... một rừng cây cổ thụ. Trong đầu tôi lúc này đã hiện rõ dáng vóc một Khu căn cứ địa nằm chon von
trên hai dãy núi đá hiểm hóc, lưng tựa vào dãy Giăng Màn hùng vĩ, xung quanh là
dòng chảy của hai con sông, tạo nên một thế chiến lược đắc địa “vừa có thế công,
vừa lợi thế thủ”. “Nhiều vị lãnh đạo sau khi thăm Khu di tích này đã hứa sẽ đầu tư làm một con
đường bê tông men theo chân thành vào cổng thành. Trong khi dự án tôn tạo đang
chờ được phê duyệt, dịp kỷ niệm 160 năm Ngày sinh Phan Đình Phùng đang đến gần,
làm được rứa cũng là quý lắm, nhưng dân chờ mãi chẳng thấy mô. Chỉ một lối đi
nhỏ hơn hai cây số đường bê tông mà răng khó rứa, chú nờ?!”. Mang theo câu hỏi
của ông Lợi về xuôi, tôi chưa biết tìm đâu câu trả lời. (Còn tiếp) THÀNH CHÂU-VĂN HỌC |
| Trang chính
Chính trị
|
Kinh tế
|
Đời sống - Sức khỏe
|
Pháp luật
|
Khoa học - Giáo dục - Tin học
|
|
Văn hoá
|
Thế giới
|
Thể thao
|
Tết 2009
|
Trang Hà Nội
|
Tết 2010
|
World Cup 2010
|
© Báo Nhân Dân thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Địa chỉ liên hệ: toasoan@nhandan.org.vn |