Từ Xuân 1968 đến Đại thắng Xuân 1975

Thứ Hai, 01/01/2018, 14:36:36
 Font Size:     |        Print
 

Lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định chuẩn bị bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Hội thảo khoa học cấp quốc gia về "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt quyết định và lịch sử" do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo T.Ư và Thành ủy TP Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức vào ngày 29-12-2017 vừa qua tiếp tục khẳng định: Chiến thắng ban đầu của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 (TTC-ND 1968) là tiền đề và bài học kinh nghiệm quý giá về nhiều mặt đưa đến Đại thắng Xuân 1975.

Nhìn nhận Cuộc TTC-ND 1968 sau nửa thế kỷ, đồng chí Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng, thời gian giúp chúng ta có thêm những cứ liệu lịch sử để nhìn nhận toàn diện hơn, sâu sắc hơn về sự kiện, bởi cuối năm 1967, cục diện chiến trường đã có thay đổi. Theo kế hoạch, Cuộc TTC-ND 1968 sẽ được tiến hành hai hướng chiến lược: Hướng tiến công chủ yếu nhằm vào các thành thị, đánh sập các cơ quan đầu não chiến tranh, các trung tâm chỉ huy, hậu cứ và các phương tiện giao thông vận tải chiến lược của địch; hướng phối hợp quan trọng là mở chiến dịch lớn vùng rừng núi, trọng điểm là mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, nhằm tiêu diệt, nghi binh, thu hút, giam chân một bộ phận lớn quân địch, tạo điều kiện thuận lợi cho mặt trận đô thị và nổi dậy của quần chúng ở nông thôn.

Thực hiện kế hoạch nghi binh, thu hút một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đêm 20, rạng ngày 21-1-1968, quân ta nổ súng mở đợt hoạt động quân sự lớn tại mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Trong khi mọi sự chú ý ứng phó của Mỹ đổ dồn vào mặt trận ấy thì đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân và dân miền nam đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở bốn thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn, quận lỵ; đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương, địa phương của Mỹ và chính quyền Sài Gòn... Đặc biệt, những trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc lập, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn,... đã tạo nên chấn động lớn. Dù chưa đạt được mục tiêu cao nhất, song đó là “đòn sấm sét” làm cho chính quyền Mỹ và Sài Gòn choáng váng. Đặt trong bối cảnh quốc tế những năm 60 của thế kỷ 20, khi tư tưởng “phục Mỹ, sợ Mỹ” vẫn còn khá phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, thì thắng lợi của nhân dân Việt Nam mà đỉnh cao là Cuộc TTC-ND 1968 là sự cổ vũ, động viên tinh thần rất to lớn.

Với tư cách là người trong cuộc, có mặt tại mặt trận Sài Gòn - Gia Định, chiến trường miền nam thời điểm đó, trong tham luận gửi đến hội thảo, nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh cho biết: “…Ta đã giữ được bí mật đến tận giờ nổ súng mặc dù vẫn phải đáp ứng yêu cầu đề ra là phải nhanh chóng đưa được một khối lượng rất lớn vũ khí vào ém sát các mục tiêu. Tính đến cuối năm 1967, ta đã thiết lập được 19 “lõm” chính trị ngay sát những mục tiêu trọng yếu của địch, bao gồm 325 gia đình cơ sở, tạo nên 400 điểm ém quân và 12 kho vũ khí. Với kỹ thuật ngụy trang tài tình, khôn khéo và mưu trí, các đơn vị đã chuyển vào nội thành 450 ký thuốc nổ TNT, 100 súng K54, 50 súng AK, hàng chục súng, đạn B40, ba khẩu cối, một khẩu ĐKZ và 90 quả đạn. Đợt 2 cuộc tiến công, ta còn vận chuyển được 12 xe vũ khí vào khu vực Phú Thọ Hòa…”.

Trong tham luận gửi đến hội thảo, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nêu rõ: “Ngày 28-1-1967, Bộ Ngoại giao ta nêu lập trường: Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hành động chiến tranh khác chống lại miền bắc Việt Nam. Chỉ sau khi Mỹ thực hiện điều này thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ có thể nói chuyện”. Cuối năm 1967, ngoại giao Việt Nam đi thêm một nước cờ: “Sau khi Hoa Kỳ chấm dứt không điều kiện việc ném bom…, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ”. Ta đã chuyển từ “có thể nói chuyện” sang dứt khoát “sẽ nói chuyện”. Việc ta đưa ra tuyên bố quan trọng như vậy ngay trước Cuộc TTC-ND 1968 còn khiến đối phương chủ quan, cho rằng Việt Nam yếu thế phải “xuống nước”, từ đó đánh giá thấp khả năng ta tiến hành “đánh lớn”, bảo đảm yếu tố bí mật. Khi bước vào Cuộc TTC-ND 1968, các lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công địch trên toàn chiến trường miền nam, đánh thẳng vào rất nhiều cơ sở đầu não của địch, buộc Tổng thống Mỹ lúc ấy là Giôn-xơn phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom khu vực bắc vĩ tuyến 20, “sẵn sàng tiến tới hòa bình thông qua thương lượng”.

Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong Cuộc TTC-ND 1968, sự nổi dậy của các tầng lớp nhân dân, các giới đồng bào ở Sài Gòn - Gia Định với nhiều hình thức phong phú là một sự thật lịch sử. Không có nhân dân thì không thể nắm tình hình, bộ đội không thể vượt qua các tuyến ngăn chặn dày đặc của địch để vào thành phố, không thể ém quân bí mật trong lòng thành phố, ngay gần cơ quan đầu não địch, không thể có khối lượng lớn về vũ khí để chiến đấu. Trong hoàn cảnh tương quan lực lượng cách mạng - phản cách mạng quá chênh lệch trong đợt 1 và đợt 2 của Cuộc TTC-ND 1968, càng thấy rõ hơn ý nghĩa và giá trị của những đóng góp, hy sinh, của tấm lòng son sắt kiên trung mà người dân Sài Gòn - Gia Định dành cho cách mạng.

Tuy chiến thắng không đạt mục tiêu đề ra, song đã khẳng định sự cần thiết và hiệu quả của lực lượng biệt động Sài Gòn, một phương thức đấu tranh quân sự đặc thù trong đô thị, nơi đầu não của chế độ cũ, vô hiệu hóa phần lớn sức mạnh các khí tài hiện đại của địch; khẳng định lòng yêu nước của nhân dân miền nam và Sài Gòn - Gia Định. Bài học từ những hạn chế của Cuộc TTC-ND 1968 như: Về đánh giá khả năng và sức mạnh của kẻ thù; về đề ra mục tiêu quá cao; về phương thức tiến công và sử dụng lực lượng; về buông lỏng địa bàn nông thôn; về giữ gìn lực lượng, hạn chế tổn thất…, đã giúp Đảng ta nhận thức thấu đáo hơn về thực tế chiến trường, tương quan lực lượng và là tiền đề và bài học kinh nghiệm quý giá về nhiều mặt đưa đến Đại thắng Xuân lịch sử 1975.

Minh Anh

Chia sẻ