Doãn Mẫn - biệt ly từ đây...

Thứ Sáu, 17/09/2010, 11:04:00
 Font Size:     |        Print
 

Ngày ấy, ở quanh Nhà thờ Lớn Hà Nội có rất nhiều thanh niên đem lòng say mê âm nhạc khi bị quyến rũ bởi những giai điệu thánh ca. Giữa nhiều thanh niên đó, Doãn Mẫn đã không nghĩ như thế. Ông đã cùng Văn Chung và Lê Yên lập ra nhóm Tricéa chủ trương sáng tác những giai điệu hướng về dân tộc. Ngay từ ca khúc đầu tay Tiếng hát đêm thu (lời: Văn Chung), Doãn Mẫn đã trở thành một trong không nhiều tác giả tân nhạc thời kỳ đầu, vừa như một tuyên ngôn về thẩm mỹ âm nhạc riêng mình. Rồi liên tiếp những Gió thu, Một buổi chiều mơ, Bến yêu đương, Sao hoa chóng tàn, Từ đâu tiếng tơ, Hương cố nhân, Nhạc chiều, Gió khơi xa... và đặc biệt là Biệt ly được ông sáng tác vào năm 1939 đã làm xao động bao con tim của nhiều thế hệ mến mộ âm nhạc.

Năm ấy là năm Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Nhiều người dân Việt bị buộc phải đi lính sang Pháp tham chiến. Bến cảng Hải Phòng là nơi diễn ra cảnh chia lìa như thế.

Thực ra, cảm xúc lúc chia lìa đã trở thành cảm hứng thường nhật của văn nghệ sĩ thời tiền chiến, nên để có một cái gì ấn tượng, một cái gì khác thường đâu dễ. Vậy mà Doãn Mẫn đã bất hủ với Biệt ly và sau ông là Thâm Tâm với Tống biệt hành. Nhưng nếu Tống biệt hành đầy chất cổ thi bi hùng, khảng khái Đưa người ta không đưa qua sông/Sao có tiếng sóng ở trong lòng... thì ở Biệt ly lại tràn trề một sự tươi mới, nồng nàn và lãng mạn: Biệt ly/Nhớ nhung từ đây/Chiếc lá rơi theo heo may/Người về có hay - Biệt ly/Sóng trên dòng sông/Ôi còi tàu như xé đôi lòng....

Doãn Mẫn ( còn được viết là Dzoãn Mẫn) sinh ngày 15 tháng 10 năm 1919 tại Hà Nội. Nhạc phẩm Biệt ly được ông viết năm 1939 là tác phẩm nổi tiếng nhất. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông:

Cô lái thuyền
Gió thu
Gió xa khơi
Gọi nghé trên đồng
Hương cố nhân
Một buổi chiều mơ
Một buổi chiều thu
Một hình bóng
Nhạc chiều
Nhắn người chiến sĩ
Sao hoa chóng tàn
Tiếng hát đêm thu
Trở lại cùng anh

Người ra đi cùng mây trôi nước trôi ngày tháng trôi mà nhớ thương thì vẫn dư ảnh lại mãi cùng nhân gian. Và cứ thế, Biệt ly đã vượt qua năm tháng để trở thành một trong những tình khúc bất tử của mọi thời đại ở Việt Nam.

Chính vì có tấm lòng chân thành hướng về dân tộc, ngay từ 1944, Doãn Mẫn đã viết Nhắn người chiến sĩ mang âm hưởng không khí cách mạng thời chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Bài hát lạc quan này được hát những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Lúc này, ông đã có thêm hành khúc Dũng tiến được Đinh Ngọc Liên chuyển soạn cho dàn quân nhạc.  

Rồi Những mầm sống, Sông Thao... khi ở Đoàn văn công Nhân dân cùng Lê Yên. Sau hoà bình, Doãn Mẫn lại có Gọi nghé trên đồng (lời Hồng Đăng) cũng rất ấn tượng. Khi đó, ông đã về công tác tại Trường Âm nhạc Việt Nam - nay là Nhạc viện Hà Nội. Đến khi về Viện Âm nhạc, ông đã công bố hai công trình: Góp phần tìm hiểu sự hình thành nền âm nhạc cải cách Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 và Những bước phát triển trong công tác đào tạo cán bộ âm nhạc từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1975.

Thời trai trẻ, chính nhờ cuốn Tự học xướng âm của ông cùng cuốn Ký âm phổ thông của Phạm Tuyên, chúng tôi đã thoát nạn "mù nhạc" và có đứa còn cao hứng sáng tác ca khúc bằng khả năng xướng âm tự học của mình. Khi tôi được gặp Doãn Mẫn ở phố Nhà Thờ thì ông đã vào tuổi "cổ lai hy".

Lúc đó, nhờ đổi mới, những ca khúc lãng mạn thời tiền chiến, trong đấy có Biệt ly đã được trình diễn trở lại sau nhiều thập kỷ vắng bóng. Doãn Mẫn thường nhỏ nhẻ, tươi vui trong một dáng vẻ lão thực. Nhiều câu chuyện thú vị về thời xa xưa đã được ông kể lại say sưa.

Năm ngoái, vào đầu hạ, cả Hà Nội đã thương buồn đưa tiễn tài tử Ngọc Bảo - người hát Biệt ly hay nhất - vào cõi vĩnh hằng. Năm nay, lại là cuộc đưa tiễn chính tác giả Biệt ly - người cuối cùng của nhóm Tricéa ra đi. Cầu mong ông yên giấc ngàn thu.


Theo: Theo NGUYỄN THỤY KHA - Lao Động

Chia sẻ