Huy động nguồn lực ứng phó biến đổi khí hậu

Chủ Nhật, 15/07/2018, 05:39:01
 Font Size:     |        Print

Ðược đánh giá là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất do biến đổi khí hậu (BÐKH) trong những thập kỷ tới, nhất là tình trạng mực nước biển dâng tại các vùng ven biển. Ðể chủ động ứng phó BÐKH, Việt Nam đã và đang nỗ lực tạo các nguồn lực nhằm hạn chế những tác động do BÐKH gây ra.

Đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) được đánh giá là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng. Theo kịch bản BÐKH, nhiệt độ vào cuối thế kỷ tăng khoảng 3,4 độ C, nếu mực nước biển dâng lên 100 cm sẽ gây ngập vĩnh viễn khoảng gần 40% diện tích đất của đồng bằng. BÐKH còn làm gia tăng rủi ro do thiên tai, các hiện tượng khí hậu cực đoan như: mưa, bão, giông tố, lốc xoáy... sẽ ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân trong vùng. Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn, nhất là xây dựng đập thủy điện cũng làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào nội vùng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Mặt khác, tình trạng sạt lở bờ sông, kênh, rạch, bờ biển xảy ra ở hầu hết địa phương vùng ÐBSCL. Thống kê mới nhất cho thấy, toàn vùng hiện có 562 khu vực bờ sông, bờ biển bị sạt lở, với tổng chiều dài 786 km, trong đó có 42 khu vực sạt lở đặc biệt nguy hiểm với tổng chiều dài 148 km cần sớm được xử lý để bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân và Nhà nước...

Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường (TN và MT) Trần Hồng Hà cho biết: Thời gian qua, những biểu hiện cực đoan của BÐKH như: bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, nắng hạn, triều cường… tại nước ta ngày càng gia tăng cả về cường độ và độ bất thường. Trước thực trạng nêu trên, Chính phủ, Bộ TN và MT đã triển khai nhiều nhiệm vụ ưu tiên, quan trọng như: Từ năm 2011 đến nay, Chính phủ đã đầu tư các công trình thích ứng với BÐKH phù hợp từng vùng, từng địa phương chịu nhiều tác động của BÐKH tại các tỉnh ÐBSCL, các tỉnh miền núi phía bắc, Tây Nguyên và các tỉnh, thành phố ven biển, với tổng nguồn ngân sách gần 19 nghìn tỷ đồng. Các nguồn kinh phí nêu trên đã được đầu tư nâng cấp hệ thống kiểm soát mặn; nâng cấp các đoạn đê biển, đê sông ở những khu vực xung yếu; nâng cấp hệ thống lưu trữ và cung cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và điều tiết lũ; trồng rừng phòng hộ đầu nguồn…

Bộ TN và MT đã nghiên cứu, đề xuất và xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành, hoặc ban hành theo thẩm quyền một số cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về ứng phó BÐKH như: Chiến lược quốc gia về BÐKH; Kế hoạch hành động quốc gia về BÐKH và kế hoạch hành động ứng phó BÐKH của địa phương; Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Pa-ri về BÐKH của Việt Nam (hiện đã có 45 tỉnh, thành phố xây dựng và ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Pa-ri về BÐKH của địa phương mình). Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050… Ðáng chú ý, ngày 17-11-2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ÐBSCL thích ứng BÐKH, trong đó giao Bộ TN và MT chủ trì, phối hợp các bộ, ngành và cơ quan liên quan khẩn trương rà soát số liệu, hoàn thiện công tác điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường vùng ÐBSCL. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành về ÐBSCL phục vụ phát triển bền vững và thích ứng BÐKH, kết nối với cơ sở dữ liệu của Ủy hội sông Mê Công quốc tế; nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh báo và dự báo về tài nguyên và môi trường…

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy các văn bản quy phạm pháp luật về BÐKH vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ; đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý về BÐKH ở địa phương còn mỏng, nhất là chưa hình thành được hệ thống đồng bộ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực BÐKH từ T.Ư đến địa phương. Hiện nay, Việt Nam mới ở trong giai đoạn đầu đào tạo các chuyên ngành về ứng phó BÐKH, cho nên nguồn nhân lực còn thiếu. Nhất là nguồn vốn ngân sách dành cho BÐKH còn hạn chế so với yêu cầu thực tế, chủ yếu mới chỉ dành cho xây dựng cơ chế, chính sách và thực hiện một số nghiên cứu cơ bản, đánh giá tác động của BÐKH... Việt Nam cũng chưa huy động được các nguồn vốn xã hội hóa cho công tác ứng phó BÐKH, trong khi các hoạt động này là các hoạt động công ích, ít có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; các địa phương chưa dành nhiều sự đầu tư cả về kinh phí, nguồn nhân lực…

Trước thực trạng nêu trên, thời gian tới Bộ TN và MT sẽ tăng cường công tác quản lý nhà nước về BÐKH trên phạm vi cả nước; phối hợp các bộ, ngành, địa phương huy động các nguồn lực quốc tế, nguồn lực xã hội triển khai hiệu quả Chiến lược quốc gia về BÐKH; Chỉ đạo việc xây dựng lộ trình hành động cụ thể đối với Kế hoạch triển khai Thỏa thuận Pa-ri về BÐKH và thực hiện rà soát, cập nhật đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam. Triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ÐBSCL thích ứng BÐKH; nghiên cứu các giải pháp thích ứng BÐKH khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và các vùng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của BÐKH...

THÁI SƠN

Chia sẻ