Chiến lược dân số đến năm 2030

XUÂN THANH

Thứ năm, 02/01/2020 - 01:36 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Quy mô dân số nước ta đến năm 2030 vào khoảng 104 triệu người.

Nam giới sẽ cao trung bình 168,5 cm, giảm hai phần ba số vị thành niên, thanh niên có thai ngoài ý muốn… là một trong số các mục tiêu trong tám nhóm mục tiêu lớn của Chiến lược dân số Việt Nam đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Cụ thể, mục tiêu đầu tiên của Chiến lược dân số Việt Nam đến năm 2030 là duy trì vững chắc mức sinh thay thế, giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng, đối tượng, giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị, bảo đảm quy mô dân số nước ta đến năm 2030 vào khoảng 104 triệu người.

Mục tiêu thứ hai là mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại, phòng tránh vô sinh và hỗ trợ sinh sản. Tại Việt Nam, thống kê cho thấy trong khoảng 300.000 đến 350.000 ca phá thai mỗi năm có tới 62% là các ca mang thai ngoài ý muốn. Trong đó, tình trạng phá thai ở vị thành niên và thanh niên còn cao và tỷ lệ phá thai lặp lại còn khá phổ biến.

Mục tiêu thứ ba là bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc thiểu số có dưới 10.000 người, đặc biệt là những dân tộc thiểu số rất ít người có nguy cơ suy giảm giống nòi, ngăn chặn tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng.

Mục tiêu thứ tư là nâng cao chất lượng dân số: Đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, phấn đấu duy trì cơ cấu tuổi ở mức hợp lý: Tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%, tỷ lệ người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỷ lệ cặp nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam trung bình đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm; chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm bốn nước hàng đầu khu vực Đông - Nam Á…

Mục tiêu thứ năm là thúc đẩy phân bố dân số hợp lý và bảo đảm quốc phòng - an ninh: Thúc đẩy đô thị hóa, đưa tỷ lệ dân số đô thị đạt hơn 45%; tiếp tục thực hiện bố trí, sắp xếp dân cư hợp lý ở vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn.

Mục tiêu thứ sáu là hoàn thành xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đẩy mạnh lồng ghép các yếu tố dân số vào xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội: 100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thống nhất, dùng chung trên quy mô toàn quốc.

Mục tiêu thứ bảy là phát huy tối đa lợi thế cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Mục tiêu thứ tám là thích ứng với già hóa dân số, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Cùng đó, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng chia thành hai giai đoạn thực hiện. Giai đoạn I: Từ năm 2019 - 2021, xây dựng mô hình, chuẩn bị nguồn lực. Giai đoạn II: Từ năm 2022 - 2030, mở rộng, triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Chiến lược.

Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là hai thành phố có mật độ dân số cao nhất cả nước, tương ứng là 2.398 người/km² và 4.363 người/km². Dân số khu vực thành thị ở Việt Nam năm 2019 là 33.059.735 người, chiếm 34,4%; ở khu vực nông thôn là 63.149.249 người, chiếm 65,6%. Từ năm 2009 đến nay, tỷ trọng dân số khu vực thành thị tăng 4,8%.