Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô

THU THỦY

Chủ nhật, 21/07/2019 - 03:22 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá lạc quan hơn về tình hình sản xuất, kinh doanh.

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần tập trung cải thiện nền tảng chính sách kinh tế vi mô, đồng thời ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô (KTVM), tạo dựng thêm dư địa cho điều hành chính sách (ĐHCS), vận dụng các chính sách KTVM linh hoạt để ứng phó các diễn biến bất lợi của kinh tế thế giới và khu vực, đặc biệt diễn biến chiến tranh thương mại (CTTM) Mỹ - Trung Quốc.

Theo dự báo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM), được đưa ra tại hội thảo “Kinh tế Việt Nam sáu tháng đầu năm 2019: Kết quả và Góc nhìn” diễn ra mới đây, năm nay, nước ta có thể đạt được hầu hết mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Có thể nói đây là một góc nhìn đầy tích cực.

Điểm lại kết quả đạt được sáu tháng đầu năm 2019, CIEM cho biết, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể đạt 6,82%; tăng trưởng xuất khẩu dự báo khoảng 8,02% với thặng dư thương mại 0,8 tỷ USD; lạm phát bình quân tăng 3,38%... Theo đánh giá của CIEM, tăng trưởng GDP quý II đạt thấp hơn quý I nhưng vẫn là tương đối cao so các nước trong khu vực, đặc biệt trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những đổi thay khá nhanh và khó đoán định. Có được kết quả này là do công tác ĐHCS, cải cách kinh tế của đất nước cũng xuất hiện nhiều điểm sáng. Trong đó, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; yêu cầu các bộ, ngành chủ động theo dõi, cập nhật và dự báo những diễn biến từ bên ngoài được thực hiện thường xuyên hơn. So giai đoạn kinh tế suy giảm những năm 2008-2009, Việt Nam hiện đã có thêm kinh nghiệm và bình tĩnh hơn để ứng phó tác động bất lợi từ những diễn biến xấu của kinh tế thế giới.

Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp CIEM Nguyễn Anh Dương nhận định, có thể xuất phát từ môi trường đầu tư, kinh doanh (MTĐTKD) tiếp tục được cải thiện và Việt Nam đã đi vào thực hiện Hiệp định Ðối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và chuẩn bị thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang nhìn nhận Việt Nam gia tăng sự hấp dẫn tương đối trong bối cảnh CTTM Mỹ - Trung Quốc. Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực hiện CPTPP và EVFTA cũng có những chuyển biến mới. Đồng hành những chuyển biến này, sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp (DN) có phần rõ nét hơn. Các DN công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá lạc quan hơn về tình hình sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên bên cạnh đó, ông Nguyễn Anh Dương cũng cho rằng, thực tiễn cải cách và ĐHCS trong sáu tháng đầu năm 2019 vẫn bộc lộ một số hạn chế. Trước hết, sự lưu tâm đối với cải cách MTĐTKD theo Nghị quyết 02 ít nhiều đã giảm sút. Năng suất và chất lượng lao động được đề cập nhiều, song tính mới và cụ thể trong các đề xuất chính sách và cơ chế thực thi còn hạn chế, trong bối cảnh sự đối đầu giữa các công nghệ mới và tư duy quản lý truyền thống ngày một phức tạp hơn. Nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế chưa được truyền tải vào hệ thống chính sách, quy định trong nước. Sự hứng khởi với EVFTA và EVIPA chưa đi kèm với tâm thế chuẩn bị cho các cải cách thể chế kinh tế liên quan. Việc chuẩn bị cho CPTPP còn chậm, dù Hiệp định này đã thực thi. Và có một biểu hiện được chỉ ra, đó là một bộ phận không nhỏ DN, người dân có tâm lý bài trừ cực đoan đối với hàng hóa, vốn đầu tư từ một số quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong bối cảnh hiệu quả giải trình chính sách còn chậm được cải thiện, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cân nhắc, điều chỉnh chính sách của một số bộ, ngành… Trong bối cảnh dự báo hàng xuất khẩu của Việt Nam có thể tiếp tục gặp phải nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại, điều tra chống lẩn tránh thuế, gian lận xuất xứ... thì đây cũng là một thách thức nữa cho ĐHCS.

Trước đó, tại buổi tọa đàm công bố Báo cáo tổng quan kinh tế giữa kỳ 2019 do Trung tâm Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF) tổ chức, Giám đốc NCIF Trần Thị Hồng Minh cũng đưa ra đánh giá, trong bối cảnh thương mại, đầu tư toàn cầu không khả quan như dự báo, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại với nhiều yếu tố rủi ro gia tăng, đáng chú ý là căng thẳng giữa các nền kinh tế lớn, kinh tế Việt Nam vẫn đạt nhiều kết quả tích cực. Ước tính tăng trưởng sáu tháng đầu năm 2019 toàn nền kinh tế đạt 6,76%, thấp hơn cùng kỳ năm 2018. NCIF dự báo, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2019 ở mức 6,86% (thấp so mức 7,08% tương ứng của năm 2018). Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2019 tăng 3,71% so cùng kỳ năm 2018. Tuy nhiên, cần nhận diện các động lực thúc đẩy tăng trưởng có bền vững và duy trì được trong dài hạn hay không.

Trong bối cảnh hiện nay, theo Viện trưởng CIEM Nguyễn Đình Cung, thông điệp về việc ưu tiên chính sách cần tiếp tục tập trung vào cải thiện nền tảng kinh tế vi mô, thúc đẩy mạnh mẽ cải cách và hoàn thiện hệ thống thể chế luật pháp, cải thiện MTĐTKD, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế và xử lý hiệu quả những rủi ro trong môi trường kinh tế quốc tế đầy biến động. Theo đó, các kiến nghị về cải cách nền tảng kinh tế vi mô, các biện pháp KTVM tiếp tục cần được chú trọng. Ưu tiên ổn định KTVM, tạo dựng thêm dư địa cho ĐHCS đối với KTVM, vận dụng các chính sách KTVM linh hoạt để ứng phó các diễn biến bất lợi của kinh tế thế giới và khu vực, đặc biệt diễn biến CTTM Mỹ - Trung Quốc. Diễn tiến thực hiện EVFTA, Hiệp định Bảo hộ đầu tư với Liên minh châu Âu (EVIPA) đã được ký kết và đang chờ phê chuẩn, Việt Nam có quyền trông đợi vào những cơ hội và tác động tích cực mới đối với nền kinh tế trong thời gian tới.