Nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh

QUỐC BÌNH

Chủ nhật, 03/11/2019 - 03:43 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Theo xếp hạng của WB, trong hai năm gần đây, chỉ số cải thiện vượt trội của Việt Nam là bảo hiểm xã hội, tăng 58 bậc. Ảnh: LAM ANH

Thời gian qua, Chính phủ đã nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh (MTKD), rõ nét nhất là cắt giảm ngành nghề kinh doanh có điều kiện và đơn giản hóa điều kiện kinh doanh (ĐKKD), thay đổi phương thức quản lý chuyên ngành… Song thực tế, vẫn có trở ngại chính và là rào cản khiến doanh nghiệp (DN) khó bứt phá.

Tại Hội thảo MTKD Việt Nam 2016 - 2019 qua xếp hạng Doing Business: Kết quả và một số gợi ý cải cách, Trưởng ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM) Nguyễn Minh Thảo nhận định, xu hướng khá rõ là các văn bản pháp luật ngày càng thể hiện sự chia phần quản lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước, gây khó khăn hơn cho DN. Chỉ số NLCT của Việt Nam dù tăng 10 bậc trên bảng xếp hạng NLCT toàn cầu năm 2019, xếp thứ 67, nhưng MTKD vẫn còn nhiều rào cản; không ít bộ, ngành còn “thỏa hiệp” phân chia quyền quản lý.

Theo phân tích của đại diện nhóm nghiên cứu CIEM, trên bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), NLCT của Việt Nam có bước tăng trưởng ấn tượng với 10 bậc và 3,5 điểm trong năm 2019, từ thứ hạng 77 lên 67. Trong đó, có 8/12 chỉ số tăng điểm và tăng hạng, gồm thể chế, ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng, thị trường sản phẩm, thị trường lao động, quy mô thị trường, mức độ năng động trong kinh doanh, năng lực đổi mới sáng tạo.

Tuy vậy, theo đánh giá của các chuyên gia, vẫn còn nhiều thách thức. Đó là 8/12 trụ cột có thứ hạng thấp hoặc rất thấp (dưới thứ hạng 67). Cải cách có xu hướng chững lại trong năm 2018 - 2019. Năm 2019, có hai cải cách được ghi nhận (nộp thuế và tiếp cận tín dụng), chỉ số tiếp cận điện năng tiếp tục duy trì thứ hạng.

Chuyên gia Lê Duy Bình cho rằng, số lượng cải cách chưa nhiều, chưa nói đến chất lượng cải cách. Xếp hạng của Doing Business đánh giá ở cấp độ vĩ mô, cần có những hành động cụ thể thông qua chính sách cụ thể được thể hiện ở số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) như cải cách thủ tục hành chính... mới thể hiện được đúng thực tế cải cách của Việt Nam.

Theo xếp hạng của WB, trong hai năm gần đây, điểm số của Việt Nam tiếp tục được cải thiện nhưng chậm, thứ hạng mỗi năm giảm một bậc. Cải cách được ghi nhận tích cực nhất vào năm 2017. Cụ thể, có hai chỉ số cải thiện vượt trội trong giai đoạn này là tiếp cận điện năng (tăng 69 bậc); nộp thuế và bảo hiểm xã hội (BHXH) tăng 58 bậc. Cũng theo xếp hạng của WB, có một chỉ số tăng hạng nhưng do các nước khác giảm bậc là giải quyết phá sản của DN, lần lượt từ vị trí 125, 129, 133 lên vị trí 122 thế giới. Giải quyết phá sản DN trong nhiều năm không có cải cách, thời gian kéo dài; tỷ lệ DN phục hồi sản xuất, kinh doanh thấp. Trong ASEAN, xếp hạng chỉ số này của Việt Nam chỉ đứng trên Lào.

Theo các chuyên gia, thời gian qua, Chính phủ đã nỗ lực cải thiện MTKD, rõ nét nhất là cắt giảm ngành nghề kinh doanh có điều kiện và đơn giản hóa ĐKKD, thay đổi phương thức quản lý chuyên ngành… song ĐKKD vẫn là trở ngại chính và rào cản khiến DN khó bứt phá. Hiện, Việt Nam đứng thứ 5 trong ASEAN. Khoảng cách với các nước Singapore, Malaysia ngày càng xa. Còn trong Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam đứng thứ 10, chỉ hơn Peru. Những cản trở trên còn được thể hiện ở sự “chia phần” quản lý các văn bản pháp luật giữa các cơ quan quản lý nhà nước, gây khó khăn hơn cho DN. Tiếp đến là quản lý, kiểm tra chuyên ngành (KTCN) chậm cải cách, thậm chí có những văn bản mới được ban hành đi ngược với chỉ đạo của Chính phủ, hoặc thể hiện cải cách hình thức, thiếu thực chất. Hay thanh tra, kiểm tra vẫn là nỗi lo đối với DN. Cùng một quy định chính sách nhưng cách thức thực thi khác nhau.

Thẳng thắn điểm tên một số bộ, ngành “khai thác” yêu cầu quản lý mặt hàng theo mã hồ sơ để mở rộng thêm đối tượng quản lý như: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), Bộ Công thương, bà Nguyễn Minh Thảo cho biết, các DN trước đây hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động xin cấp phép tại một đầu mối là Bộ LĐ-TB&XH, nhưng nay phải xin giấy phép của chín bộ với cùng một nội dung công việc. Cá biệt, kết quả kiểm định không được các bộ thừa nhận kết quả của nhau mà vẫn phải yêu cầu tham gia đào tạo lại để cấp chứng chỉ, trong khi DN phải trả khoảng 10 triệu đồng/người chi phí đào tạo.

Quá trình rà soát các ĐKKD của CIEM cũng cho thấy, trong công tác KTCN, Bộ Công thương chậm cải cách, thậm chí có những văn bản mới được ban hành đi ngược với chỉ đạo của Chính phủ, hoặc thể hiện cải cách hình thức, thiếu thực chất. Thí dụ, khi công bố danh mục các mặt hàng (kèm mã hồ sơ) đã được cắt giảm KTCN thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công thương, trong đó có hàng trăm mặt hàng sắt thép, dệt - may được liệt kê trong danh mục. Tuy nhiên, nội dung trong quyết định công bố danh mục của Bộ chỉ là không kiểm tra trong giai đoạn thông quan, mà chuyển sang… sau thông quan.

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng CIEM thẳng thắn, thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ rất nỗ lực cải cách và quyết liệt thúc đẩy cải cách, nhưng thứ hạng MTKD của Việt Nam vẫn chưa cải thiện nhiều dù điểm số có tăng. Hai từ khóa là giảm chi phí, giảm rủi ro và phía sau đó là giảm rào cản, tăng mức an toàn trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, nhìn vào hoạt động xây dựng luật pháp thì lại có tình trạng một cải cách nhưng lại có hai, ba điểm không cải cách khác kéo lại. Thí dụ, Bộ luật Lao động sửa đổi vẫn đang có những tranh cãi về việc tăng giờ làm thêm. Việc tăng giờ làm thêm sẽ giúp thị trường lao động linh hoạt hơn, người lao động vẫn có thể tự bảo vệ mình với sự hỗ trợ của Nhà nước.