Kỳ vọng vào “tuyến cao tốc”EVFTA

THU THỦY

Thứ ba, 31/03/2020 - 04:46 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Khi EVFTA có hiệu lực, thuế suất sẽ giảm dần về 0% trong vòng bảy năm, tạo lợi thế lớn cho xuất khẩu may mặc của Việt Nam. Ảnh: NAM ANH

Trong bối cảnh diễn biến dịch Covid-19 đang rất phức tạp, các công đoạn cuối cùng để tiến tới phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam - EU (EVFTA) vẫn đang được phía Việt Nam gấp rút hoàn thiện để có thể thực thi ngay khi có hiệu lực. Tạo ra thị trường mới là một trong những cách giúp doanh nghiệp (DN) hồi phục sau khi chịu tác động của dịch Covid-19. Nhưng để có thể tận dụng được cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu (XK), các DN cần nắm vững quy định của EVFTA, nhất là về thủ tục xuất xứ hàng hóa.

Sẵn sàng “thông tuyến”

Hiệp định EVFTA chính thức được ký kết ngày 30-6-2019. Ngày 12-2-2020, Nghị viện châu Âu đã chính thức phê chuẩn hiệp định, tạo nền tảng mới bền vững cho mối quan hệ Việt Nam - EU. Với Hiệp định EVFTA, Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương có quan hệ thương mại tự do với Liên hiệp châu Âu (EU). Điều này khẳng định vai trò và vị thế địa chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, khẳng định Việt Nam từ quốc gia đi sau trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, lần đầu đã vươn lên trở thành nước đi đầu.

Được ví như “đường cao tốc quy mô lớn”, EVFTA sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ và quy mô hợp tác, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và EU, đồng thời mang lại rất nhiều cơ hội cho các DN và người dân hai bên. Đối với Việt Nam, “tuyến cao tốc” này sẽ đưa hàng hóa trong nước đến châu Âu và đón dòng hàng chất lượng cao, vốn đầu tư từ hướng ngược lại. Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, các DN Việt Nam cũng đang kỳ vọng EVFTA sớm được thực thi, giúp mở rộng cửa cho hàng hóa XK vào thị trường EU. Tăng trưởng XK nửa cuối năm 2020 có thể khả quan hơn do bệnh dịch được đẩy lùi và EVFTA đi vào thực thi.

Tại cuộc tọa đàm “EVFTA - Cao tốc hiện đại nối liền Việt Nam - EU”, ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công thương cho biết, trong bối cảnh dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến các DN thì việc tìm giải pháp khắc phục khó khăn khi dịch bệnh qua đi, trong đó có việc tìm kiếm thị trường mới là một nhiệm vụ rất quan trọng. Chính vì vậy, việc hoàn tất các thủ tục để phê chuẩn Hiệp định EVFTA vẫn được thúc đẩy mạnh mẽ. Về phía Việt Nam, hồ sơ hiện nay đã được trình và lấy ý kiến các thành viên Chính phủ. Chính phủ sẽ sớm có nghị quyết thông qua hồ sơ này trình sang Chủ tịch nước và kịp trình Quốc hội (QH) vào cuối tháng 5. Song song quá trình này, các bộ, ngành cũng phải thúc đẩy các công đoạn chuẩn bị, trong đó ưu tiên hàng đầu hiện nay là hành lang pháp lý để Hiệp định có thể được thực thi ngay khi có hiệu lực. Nếu QH thông qua và Việt Nam kịp làm thủ tục thông báo với EU, thì có thể ngay từ ngày 1-7-2020, EVFTA sẽ chính thức đi vào thực thi.

Về phía Bộ Công thương, ông Lương Hoàng Thái khẳng định, bộ đang xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn triển khai thực hiện Hiệp định, công tác cuối để “thông tuyến” “cao tốc quy mô lớn” này. Mục tiêu quan trọng nhất là sớm để Hiệp định được phê chuẩn, sẵn sàng bắt tay để tận dụng ngay cơ hội từ EVFTA. Sắp tới, ưu đãi thuế theo Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) sẽ chấm dứt, EVFTA đi vào thực thi sẽ giúp DN chuyển sang ưu đãi mang tính dài hạn hơn.

“Cú huých” đẩy mạnh xuất khẩu

Theo bà Nguyễn Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), EVFTA là con đường để DN Việt Nam thoát khỏi bế tắc khi dịch Covid-19 được kiểm soát. Với EVFTA, hy vọng hàng hóa có thể đến đích nhanh hơn các đối thủ khác từ góc độ cạnh tranh về giá. Tuy nhiên, con đường đó có tấp nập hay không phải phụ thuộc nhu cầu hai bên. Giữa lúc dịch Covid-19 đang hoành hành, có thể nhu cầu thị trường giảm sút. Nhưng khi dịch bệnh đi qua thì nhu cầu có thể tăng lên nhiều, nhất là vào thời điểm EVFTA có hiệu lực thì sẽ là “cú huých” cho DN đẩy mạnh XK trở lại.

Điểm thuận lợi là cơ cấu kinh tế Việt Nam và EU không có sự cạnh tranh trực tiếp mà là cạnh tranh bổ sung. Những hàng hóa thế mạnh của Việt Nam không phải là thế mạnh của EU và ngược lại. Bà Nguyễn Thị Thu Trang cho rằng, để tận dụng tốt cơ hội từ EVFTA, DN Việt Nam phải chịu các chi phí nhất định để điều chỉnh sản xuất. Thí dụ, để đáp ứng quy tắc xuất xứ (QTXX), DN Việt Nam phải thay đổi về nguồn cung nguyên liệu, từ nước ngoài sang nguồn cung trong nước. Tuy giá nguyên liệu trong nước đắt hơn, nhưng điều đó lại giúp các DN có lợi thế khi XK hàng sang EU.

Theo ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), EVFTA mang lại tiềm năng XK sản phẩm may mặc với giá trị hơn 100 tỷ USD/năm. Hiện, thuế suất XK hàng dệt may sang EU bình quân là 9,6%, nhưng khi EVFTA có hiệu lực, thuế suất sẽ giảm dần về 0% trong vòng bảy năm, tạo lợi thế lớn cho XK may mặc của Việt Nam, tránh việc phụ thuộc thị trường Mỹ, Nhật Bản.

Ông Nguyễn Thanh Hải, Phó Giám đốc Sở Công thương Hà Nội cho biết, Hiệp định EVFTA khi có hiệu lực sẽ xóa bỏ hơn 99% số dòng thuế theo lộ trình, tạo thuận lợi cho các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam XK sang thị trường EU. Song, hiệp định cũng đặt ra nhiều thách thức đối với hàng hóa Việt Nam do EU là một thị trường có mức thu nhập cao, cũng là thị trường có chính sách bảo vệ người tiêu dùng chặt chẽ với những rào cản về kỹ thuật cho sản phẩm nhập khẩu rất lớn. Chính vì thế, để tăng cường XK vào EU, DN cần nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là chủ động nguồn nguyên phụ liệu, bảo đảm hàng hóa Việt Nam thực thi đúng cam kết trong EVFTA.

Cần có cách tiếp cận bài bản

Tuy nhiên, theo ông Trương Văn Cẩm, theo cam kết trong EVFTA, các yêu cầu về QTXX sẽ là một thách thức lớn đối với DN dệt may, bởi nguồn nguyên phụ liệu cho sản xuất hàng XK hiện nay vẫn chủ yếu được nhập khẩu. Để được hưởng mức thuế quan ưu đãi từ Hiệp định EVFTA, hàng dệt may Việt Nam phải bảo đảm nguồn gốc xuất xứ hoàn toàn của Việt Nam hoặc phải sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc EU và các nước có hiệp định song phương với EU. Nếu đáp ứng được những quy định này, dệt may Việt Nam sẽ phát triển bền vững.

Cùng quan điểm này, ông Lương Hoàng Thái cho rằng, dù EVFTA được ví như cao tốc, nhưng không phải xe nào cũng được chạy trên cao tốc. Thị trường EU rất lớn nhưng không phải DN nào cũng có thể tiếp cận. DN đã xác định EU là thị trường mục tiêu thì cần có cách tiếp cận bài bản. Trong quan hệ với EU, cần xây dựng chuỗi cung ứng, sự tiếp cận nghiêm túc và chủ động của DN là rất quan trọng.

Còn theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, giống như đường cao tốc, xe muốn đi nhanh thì phải chịu phí, với EVFTA, DN phải chấp nhận gia tăng chi phí để điều chỉnh sản xuất. Các DN nỗ lực cải thiện chất lượng, mẫu mã không chỉ vượt qua hàng rào của cơ quan nhà nước EU mà còn giúp chinh phục khách hàng ở thị trường này. Việc đáp ứng các cam kết, quy định trong EVFTA sẽ dẫn đến sự thay đổi về pháp luật của Việt Nam. Điều này dẫn đến DN Việt Nam có thể sẽ phải chịu thêm các chi phí tuân thủ. Tuy nhiên, DN cần chấp nhận những chi phí như vậy để thay đổi và tận dụng cơ hội. Đặc biệt, để “tuyến cao tốc” đó vận hành suôn sẻ còn cần cả sự nỗ lực, quyết liệt chủ động phối hợp hỗ trợ DN từ phía cơ quan quản lý nhà nước (CQQLNN). Do vậy, CQQLNN cần có bộ phận phản ứng nhanh giải quyết những khó khăn giúp DN. Cả cơ quan nhà nước và DN hãy nhìn EVFTA là điều kiện để thay đổi vì chính chúng ta. Đương nhiên, trong cuộc “chạy đua” tận dụng cơ hội này, DN cũng không thể chỉ ngồi im đợi chờ hỗ trợ từ phía CQQLNN.

Mặt khác, để sản xuất hàng hóa trong nước bắt kịp xu thế và tận dụng được cơ hội trong EVFTA, việc phát triển công nghiệp hỗ trợ là công việc cấp bách hàng đầu. Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, để chủ động tham gia EVFTA, các ngành sản xuất trong nước cần tập trung hình thành chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa. Muốn vậy, cần sớm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo và DN; hình thành và phát huy hiệu quả các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho DN cũng như các cụm liên kết vùng để các ngành hàng trong nước tận dụng thế mạnh và lợi thế trong bối cảnh hội nhập.

Theo khuyến cáo của Bộ Công thương, các DN cần theo dõi sát tình hình dịch bệnh để có kế hoạch sản xuất và kinh doanh phù hợp, đồng thời có phương án chuyển đổi hình thức xúc tiến thương mại theo hướng tận dụng hình thức quảng bá trực tuyến, kết nối DN trực tuyến để duy trì và phát triển thị trường ngay cả khi dịch bệnh đang diễn ra; bảo đảm có thể nhanh chóng khôi phục mọi hoạt động ngay sau khi dịch bệnh suy giảm và kết thúc.