Sang cồn

TRUYỆN NGẮN CỦA HOÀNG KHÁNH DUY

Thứ hai, 13/05/2019 - 04:04 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Những ngày tháng tư châu thổ, thành phố miền sông bỗng trở nên ngột ngạt, oi ả. Nắng nóng kéo dài khiến vạn vật thu mình ủ rũ. Mọi vật dường như bị đốt cháy dưới nắng hè gay gắt.

Ba tôi, người đàn ông gần nửa cuộc đời sống bằng nghề chở nước ngọt trên chiếc phà gỗ nhỏ sang cồn Sơn, cồn Ấu, cồn Linh. Người đã từng gồng gánh cả gia đình đi qua những ngày đói tưởng đâu sẽ không thể bám trụ nổi ở cái thành phố này nữa. Một vụ tai nạn giao thông đã cướp đi đôi chân khỏe mạnh của ba.

- Phong, Phong ơi!

Tôi đang ngồi ngoài sân ngó giàn đậu biếc bỗng nghe tiếng ba gọi vóng từ trong nhà. Chạy vào thấy ba đang lọ mọ bôi mỡ vào mấy khớp bánh xe lăn, tôi buột miệng:

- Ba gọi con.

Giọng ba buồn buồn:

- Mày sang bên kia cồn tìm chị hai mày về đây cho ba, nói với nó về thăm ba, từ hồi má mày mất tới giờ...

Hai mươi mốt tuổi, chưa một lần tôi đặt chân lên mảnh đất cồn. Gò đất mọc ngay giữa dòng sông Hậu, cây cối um tùm, đứng bên này sông nhìn sang chỉ thấy mịt mù xanh mầu cây cỏ. Ngày chị tôi lấy chồng, đàng trai đi ghe qua sông đón chị về tận xóm cồn. Lúc đó tôi còn nhỏ xíu, đám cưới chị, tôi mặc cái quần lửng ngang đầu gối, ở trần, chân đi dép kẹp. Má tôi không đưa chị sang sông. Má đứng ở bờ đất bên này nhìn theo đoàn rước dâu trên dưới hai chục người. Tôi nhìn theo mà ứa cả nước mắt. Ngày người ta rước chị tôi về cồn, có đàn sáo sậu từ đâu bay về đậu trên ngọn tre, kêu ẽ ọt. Không biết chị tôi có trông thấy đàn sáo hay không mà mắt chị tôi cũng đỏ hoe.

Chị tôi chưa về.

Nhiều lần tôi giận chị, từ cồn sang đây cách có một quãng sông, đi một lần đò duy nhất là tới sao mãi chị hai chưa chịu về thăm nhà. Tôi nhìn lên trời, ừ, chắc tại con sáo năm ngoái chưa chịu về bên này sông, nên chị tôi cũng đành ở miết bên ấy.

Tuổi thơ tôi gắn bó với chị hai, người chị có vóc người nhỏ nhắn, tóc dài, làn da ngâm ngâm, mặn mòi, mang dáng dấp của người thiếu nữ Nam Bộ xa xưa. Tôi hay nói với má: “Để con nghỉ học ở nhà với chị cho chị đỡ buồn”, ba nạt: “Mày định dốt một chữ bẻ đôi còn chưa biết như ba mày à?”. Tôi quay sang nói với chị hai mà chị tưởng tôi nói đùa, làm tôi giận sôi nước mắt:

- Để sau này em nuôi chị hai suốt đời, suốt kiếp.

- Thôi đi ông tướng, thân ông lo chưa xong lấy đâu mà lo cho thân tui nữa chứ?

Vậy mà chị lấy chồng, đêm nằm tôi tự hỏi không biết chị hai có nhớ tới tôi, tới ba má hay không? Mấy lần tôi định đi đò sang thăm chị, nhưng má tôi phát hiện, má cản: “Sông nước nguy hiểm lắm! Chừng nào má đi mày mới được đi”.

Đó là một sớm nắng trong se, gió sông Hậu thổi vào con hẻm nhỏ dẫn ra bờ sông mát lành, tôi lên đường đi tìm con sáo.

Tôi ra bến đò, đón chuyến đò về cồn Sơn, rõ ràng tôi đã trông thấy con sáo bay về phương đó. Nhưng hình như tôi đã xuống nhầm đò. Mũi đò cứ rẽ sóng, chạy mãi. Tôi lớ ngớ, chân tôi ríu lại, bờ xa, tôi đang ngồi trên chiếc đò bồng bềnh giữa dòng sông. Nhưng tôi sợ, đò chở tôi đi đâu? Tôi định hỏi người chạy đò, nhưng chắc tại gió sông lạnh quá mà tôi cứng họng, không nói được. Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Đến khi tỉnh giấc, tôi thấy chiếc đò cập vào một bãi bến xa lạ. Ở đây là đâu? Tôi tự hỏi. Tôi đã đi nhầm chuyến đò, không phải về cồn Sơn tìm chị hai tôi mà về một bãi bồi xa xôi, lạ hoắc.

Nắng ngả về tây. Tôi sực nhớ mình phải quay trở về nhà, kẻo trễ chuyến đò cuối cùng. May quá, chiếc đò vẫn còn đậu ngoài bến sông. Tôi bước xuống đò về cái bến nhớ thương, cái bến quen thuộc, cái bến mà chiều nào tôi với chị hai cũng ra đó gánh nước sông Hậu mang về chất chứa đầy cái lu sau nhà.

Tôi vừa bước lên khỏi chiếc đò bỗng nghe tin dữ:

- Phong ơi, mày về nhà coi kìa, nhà mày cháy hết rồi, má mày lạc đâu trong đám cháy rồi, ba mày ngất xỉu người ta đưa vô bệnh viện rồi kìa Phong.

Bàng hoàng, không kịp nói gì, tôi co chân chạy thật nhanh về ngôi nhà nhỏ cuối con hẻm nghèo thông ra sông Hậu. Chỗ đó đang tỏa ra nghi ngút khói.

Tôi thét lên. Người ta giữ tôi lại sợ tôi lao vào đống lửa nguy hiểm. Trời ơi, tôi đau. Giá mà chút nữa thôi má tôi trở về nhà, còn nãy giờ má đi đâu đó, sang nhà hàng xóm hoặc đi chợ, hoặc đi qua cồn tìm chị hai tôi. Má sẽ lại đi trên con đường mòn mấp mô đất đá, đầu đội nón lá, hai tay đánh đùng xa. Má sẽ lại trách tôi bỏ nhà đi đâu mất tiêu từ trưa tới giờ. Má sẽ lại nhắc ba đi bán vé số về trễ dữ thần, coi chừng bữa nay ôm mấy tờ, không khéo mà đổi đời cho coi.

Nhưng má tôi không về.

Hàng xóm tìm thấy má tôi… trong đống lửa cháy dở.

Ôi má của tôi…

Ngày má mất, hình như con sáo báo cho chị hai tôi biết hay sao mà chị tôi về, trước khi hàng xóm đem má đi chôn trong lòng đất mẹ. Chị tôi ngất đi tỉnh lại nhiều lần, chị trách mình đã bỏ má sang sông để bây giờ má không còn tồn tại trên thế gian này. Chị ân hận, nhưng mọi chuyện đã quá muộn màng.

Không kìm nén được lòng, chị hai tôi gào lên:

- Ba ơi, sao ba không cứu được má con, hả ba?

Câu hỏi của chị khiến ba tôi ngỡ ngàng, rồi im lặng, tôi biết lòng ba đang ẩn nhiều xa xót. Sợ ba tổn thương, sợ chị trách lầm, tôi mở miệng nói với chị mà nghẹn ngào:

- Chị hai, sao chị trách ba, má chết là tại lửa, tại lửa…

Đôi chân ba tôi như thế cũng vì lao vào cuộc mưu sinh gánh cả gia đình trên vai, nỗi lo chồng chất. Ba không cứu được má, hàng xóm cũng không thể cứu được má.

Ngày má mất, tôi thấy con sáo trở về. Cuối cùng thì nó cũng trở về. Nó đậu trên nhành cây sau nhà, gió vờn khúc Nam ai buồn thương, đứt ruột.

Đó cũng là lần cuối cùng tôi thấy mặt chị hai tôi.

Chị về ở hẳn xóm cồn. Không biết chị giận ba hay tại con sáo lại sang sông một lần nữa, trước khi đi nó hót khúc biệt li không hẹn ngày tái ngộ.

Trong căn nhà mới được chính quyền trợ cấp xây dựng, ba con tôi sống những ngày không có má bên cạnh. Ba đi bán vé số, tôi đi học. Năm tôi thi đỗ vào Trường đại học Cần Thơ, tôi dự định không học mà đi làm phụ ba tôi. Nhưng ba ngăn: “Đã ráng được tới chừng này thì ráng tiếp, ít năm nữa ra trường có cái nghề trong tay, đời ấm êm hơn”. Tôi nghe lời ba.

Sáng hôm đó, tôi đón đò đi qua cồn tìm chị. Lần này, tôi không xuống lầm đò như lần trước. Tôi không biết rằng mình có gặp lại chị, gặp lại con sáo năm xưa hay không, nhưng đây là lần đầu tiên tôi qua cồn.

Cồn tuy nhỏ nhưng đường đi quanh co lắc léo. Con đường uốn cong bờ tre, con đường thẳng tắp bên ao đầm và gập ghềnh nối từ đầu cồn đến cuối cồn. Tôi thả bộ dưới lũy tre xạc xào gió. Người bán nước ở túp lều nhỏ chỗ bến đò chỉ tôi nhà chồng chị phía cuối cồn. Tôi cứ nhắm đường mà đi.

Căn nhà được xây theo kiểu nhà Nam Bộ cổ xưa, sân tráng xi-măng, phía trước là hàng cau còn phía sau là vườn cây sum suê rậm rạp. Nhà chồng chị rõ là vườn tược um tùm, tháng tư, bưởi năm roi lúc lỉu trên cành, da xanh mướt rượt.

“Ầu ơ, gió đưa gió đẩy

Về rẫy ăn còng

Về sông ăn cá

Về đồng ăn cua…”.

Chao ôi, giọng ai nghe sao giống giọng chị hai tôi quá đỗi. Đúng rồi, là chị hai tôi. Chị đang ru con. Chị đã có con rồi sao, đứa nhỏ gọi tôi là gì đây? Hình như là cậu. Trong buổi trưa an giấc, tôi thấy mình hệt như những ngày thơ trẻ nằm trên cánh võng sau nhà có gió sông Hậu thổi vào mát rượi, chị tôi tay cầm võng đưa đều, chị hát ru tôi cũng bằng bài hát ngọt ngào, thân thương đó.

- Chị ơi! Chị hai ơi! Em, Phong nè chị!

Nghe tiếng tôi gọi, chị tôi ngoái lại nhìn. Hai chị em nhìn nhau không nói một lời, mắt chị tôi đỏ hoe, rơm rớm.

- Phong, em đi đâu đây?

- Em đi tìm chị chứ đi đâu? Chị có con hồi nào sao không cho em với ba hay vậy chị? Sao vậy chị?

Tôi hỏi dồn dập mà quên mất chị tôi chưa kịp trả lời câu nào. Chị đứng đó, lau nước mắt. Đứa nhỏ đã ngủ say, còn chị ngổn ngang với những nỗi buồn quá vãng…

Tôi nói tiếp:

- Về chị ơi! Về với ba, với em, chị đừng bỏ mặc ba con em nữa. Ba không có lỗi. Lỗi tại ông trời…

Chị tôi không kìm được nước mắt, khóc thành lời.

Ngoài kia, sóng nước Hậu Giang vẫn ngọt ngào vỗ bờ muôn thuở...