Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính

THU THỦY, PHƯƠNG MINH

Thứ tư, 22/05/2019 - 02:48 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Cần tiếp tục triển khai cắt giảm thủ tục hành chính để giảm tiếp các dòng hàng cần kiểm tra chuyên ngành. Ảnh: CTV

Là một trong ba quốc gia trong khu vực triển khai mạnh mẽ cơ chế một cửa quốc gia (NSW), một cửa ASEAN, năm 2019, việc cải cách thủ tục hành chính (TTHC), cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD) của Việt Nam đã có nhiều chuyển biến đi vào thực chất. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực vẫn còn tồn tại tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”; cán bộ còn gây phiền hà, nhũng nhiễu doanh nghiệp (DN); chi phí không chính thức còn cao...

Kỳ 1: Tiếp tục tháo gỡ các vướng mắc

Nhiều quy định còn mù mờ

Theo ông Ngô Sách Thực, Phó Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, qua ba đợt giám sát tại 10 tỉnh, thành phố, Ban Thường trực (BTT) Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam xác định một số hạn chế, vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ trong công tác kiểm tra chuyên ngành (KTCN), cơ chế NSW. Trong đó, cơ chế NSW đang nhằm vào mục tiêu giải quyết trực tiếp TTHC phục vụ cho khâu thông quan mà chưa chú trọng nhiều đến việc chia sẻ thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước, tập trung cải thiện các chỉ số thành phần của Báo cáo môi trường kinh doanh (MTKD), lấy sự hài lòng của DN, người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp.

Tại Hội nghị giám sát các giải pháp cải cách thủ tục KTCN, giảm thời gian thông quan hàng hóa XNK, do Ủy ban T.Ư MTTQ phối hợp Bộ Tài chính, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng một số cơ quan tổ chức tại Hà Nội, Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc đánh giá, tình trạng hàng hóa phải chịu nhiều quy trình quản lý, KTCN đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên, tốc độ cải cách chưa đáp ứng được kỳ vọng của DN, vẫn còn khoảng cách khá xa so ASEAN và thế giới. Xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy thủ tục, thời gian, chi phí KTCN ở Việt Nam vẫn gấp 2-3 lần so các nền kinh tế hàng đầu ASEAN. Kết quả khảo sát 3.100 DN do VCCI thực hiện cho thấy, DN đánh giá các thủ tục KTCN là dễ, rất dễ chỉ ở mức khá thấp, chỉ chung quanh mức 15-27% ở tất cả các thủ tục.

Ở góc độ DN, đại diện Công ty Sumitomo tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long (Hà Nội) nêu dẫn chứng, Công văn 858 của Tổng cục Hải quan có hiệu lực từ tháng 3-2019 về báo cáo quyết toán cho vật tư tiêu hao và công cụ dụng cụ nhưng lại gây khó khăn, vướng mắc khi mỗi DN có cách hiểu khác nhau vì không có định nghĩa rõ ràng. Vì thế, nhiều khi quan điểm giữa DN với cơ quan hải quan cũng không khớp.

Tương tự, đại diện một DN Nhật Bản chia sẻ một số khó khăn liên quan TTHC. Cụ thể, liên quan khoản 4, Điều 44 của Nghị định 69 về nội dung quy định việc tiêu hủy các phế liệu, phế thải, phế phẩm chỉ được phép thực hiện sau khi có văn bản cho phép của Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), phải được sự giám sát của cơ quan hải quan. Trong trường hợp không được phép tiêu hủy ở Việt Nam thì phải được tái xuất. Khi tìm các văn bản hướng dẫn thực hiện quy định trên thì lại không có. Yêu cầu có văn bản cho phép của Sở TN&MT nhưng cho phép với bên nào.

Với DN có chất thải nguy hại, khi DN hoạt động đã đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại, ký kết với DN thu gom đủ điều kiện cấp phép của Sở TN&MT. Thế nhưng, cuối năm khi phát sinh chất thải nguy hại, cơ quan hải quan lại yêu cầu DN phải xin phép Sở TN&MT, mặc dù bên thu gom có giấy phép rồi. Khi bên thu gom đã có giấy phép, việc yêu cầu DN cũng phải có giấy phép khiến DN gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt, với DN phát sinh nhiều chất thải, hằng tháng, hằng tuần đều phải xin phép, nên mong muốn có văn bản hướng dẫn rõ hơn quy định trên.

Triển khai thêm nhiều giải pháp

Theo Báo cáo của MTTQ Việt Nam, qua ba đợt giám sát tại 10 tỉnh, thành phố, Ban Thường trực Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam xác định một số hạn chế, vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ trong công tác KTCN, NSW. Hiện tại, cơ chế NSW đang nhằm vào mục tiêu giải quyết trực tiếp TTHC phục vụ khâu thông quan mà chưa chú trọng nhiều đến việc chia sẻ thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước. Từ năm 2015 đến nay, từ 82.698 mặt hàng thuộc diện quản lý và KTCN, đã giảm xuống còn 70.059 mặt hàng được các bộ cắt giảm. Tuy nhiên, số lượng hàng hóa phải KTCN còn chiếm tỷ trọng lớn (hơn 19,1%). Việc cắt giảm TTHC, KTCN cần tiếp tục triển khai để giảm tiếp các dòng hàng cần KTCN.

Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn cho biết, trong số 12 chương trình mà MTTQ Việt Nam thực hiện chức năng giám sát, có hai chương trình liên quan đến DN là cải cách TTHC và cải thiện MTKD, đầu tư.

Theo Thứ trưởng Công thương Cao Quốc Hưng, còn một số vướng mắc gây cản trở tiến trình cải cách KTCN: Thứ nhất, khái niệm “hàng hóa thuộc đối tượng KTCN” và hoạt động “KTCN” trong các văn bản quy phạm pháp luật còn chưa thống nhất dẫn đến việc không tách biệt được đối tượng KTCN và đối tượng quản lý chuyên ngành. Thứ hai, hiện vẫn chưa xây dựng được phương án xử lý sự trùng lắp về KTCN giữa các bộ, ngành.

Trong thời gian tới, Bộ Công thương sẽ triển khai theo chiều sâu các giải pháp trong lĩnh vực KTCN, giảm thời gian thông quan hàng hóa xuất, nhập khẩu (XNK). Theo đó, có ba nhóm đối tượng hàng hóa được đưa ra khỏi danh mục phải KTCN khi làm thủ tục thông quan. Thứ nhất, hàng hóa nhập khẩu (NK) là nguyên liệu đầu vào hoặc sản phẩm trung gian, bán thành phẩm được NK cho các ngành sản xuất mà đối tượng quản lý là các sản phẩm thành phẩm khi đưa vào sử dụng. Thứ hai, hàng hóa NK là các sản phẩm mà không có tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia khi thực hiện thủ tục KTCN hoặc chưa quy định đầy đủ quy trình, hồ sơ theo quy định hiện hành. Thứ ba, hàng hóa NK là các sản phẩm mà các biện pháp quản lý khác có thể thay thế việc thực hiện KTCN khi làm thủ tục thông quan.

Cần đẩy mạnh xã hội hóa việc đầu tư thiết bị trong kiểm tra chuyên ngành để giảm chi phí cho cơ quan nhà nước.

Không để tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”

Hiện nay, Việt Nam là một trong ba quốc gia trong khu vực triển khai mạnh mẽ cơ chế NSW, một cửa ASEAN. Khi Việt Nam trở thành Chủ tịch luân phiên của ASEAN vào năm 2020, Chính phủ sẽ đẩy mạnh việc triển khai cơ chế này thành nhiệm vụ trung tâm trong kết nối, phát triển giao thương trong khu vực. Cùng với đó, trong một số lĩnh vực, còn tồn tại tình trạng có bộ chưa bỏ được chức năng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” (vừa ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn, vừa kiểm tra); cổng thông tin NSW bị nghẽn, quá tải vào giờ cao điểm gây ảnh hưởng tới hoạt động của DN. Ngoài ra là tình trạng cán bộ gây phiền hà, nhũng nhiễu DN; chi phí không chính thức còn rất cao… Vì vậy, các bộ, ngành cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, thời gian qua, việc cắt giảm các thủ tục KTCN chưa thực chất, còn yếu kém trong thái độ thực thi chính sách, mức độ hài lòng của DN chưa cao, số lượng DN tham gia cơ chế NSW, một cửa ASEAN chưa nhiều, chống gian lận thương mại chưa tương xứng tạo thuận lợi thương mại… Trong đó, về TTHC, dù đôn đốc gắt gao nhưng rõ ràng chưa đạt mục tiêu. Số lượng các lô hàng kiểm tra còn nhiều. Trước đây, KTCN là 35% tổng số lô hàng, mục tiêu của Chính phủ giảm xuống còn 15%, giờ mới đạt 19,1%. Có tình trạng một mặt hàng nhưng chịu kiểm tra chồng chéo. Rồi còn tình trạng bộ, ngành ban hành ra danh mục yêu cầu kiểm tra nhưng không có tiêu chuẩn, quy chuẩn, dẫn đến kiểm tra thế nào cũng được.

Phó Thủ tướng yêu cầu, đưa MTKD Việt Nam vào “top” ASEAN 4 vào năm 2020. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 02/NQ-CP nêu rõ tạo thuận lợi phải đi với chống gian lận thương mại, yêu cầu các bộ, ngành rà soát tính phù hợp, chặt chẽ trong cắt giảm thủ tục hải quan KTCN. Cần chú ý những thủ tục, mặt hàng NK nào không hợp lý thì cắt giảm, nhưng thủ tục, mặt hàng NK không đáng cắt mà lại cắt, bãi bỏ thủ tục KTCN không hợp lý thì phải rà soát lại. Nếu cắt giảm máy móc thì dễ bị lợi ích nhóm lợi dụng. Đây là vấn đề có tính hai mặt, phải suy xét thấu đáo. Năm 2019, các bộ, ngành phải chấm dứt ngay tình trạng chưa ban hành mã HS, quy chuẩn, tiêu chuẩn hàng hóa NK nhưng vẫn phải KTCN, khắc phục các yếu kém trong tổ chức thực thi công vụ. Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan và các bộ, ngành cần đẩy mạnh xã hội hóa việc đầu tư thiết bị trong KTCN để giảm chi phí cho cả cơ quan nhà nước, DN, không thể để tình trạng bộ vừa ban hành tiêu chuẩn, vừa kiểm tra.

(Còn nữa)