Cơ hội và thách thức của mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam

Thứ Hai, 16/07/2018, 03:17:24

Tại hội thảo về kinh tế chia sẻ (KTCS) ở Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Ðầu tư vừa tổ chức, các chuyên gia quốc tế khuyến cáo: Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình vào năm 2010, cơ hội để tiến đến nấc thang thu nhập cao hơn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Ðây không phải ngoại lệ bởi thực tế, nhiều quốc gia trên thế giới đều "đứng yên" suốt 30 đến 40 năm, sau khi đã đạt ngưỡng thu nhập trung bình.

Một trong những cách vượt bẫy thu nhập trung bình mà Việt Nam cần nắm lấy, đó là sử dụng công cụ thông minh để nâng cao năng suất lao động, thông qua mô hình KTCS.

KTCS chính thức xuất hiện ở Việt Nam năm 2014, khi Chính phủ cho phép áp dụng thí điểm dịch vụ vận tải trực tuyến đối với Grab, Uber. Sau đó, mô hình kinh tế mới này đã mở rộng ở nhiều dịch vụ khác, như chia sẻ phòng Airbnb (ước tính đến năm 2016 đã có hơn 10 nghìn cơ sở đăng ký cho thuê phòng trên Airbnb); dịch vụ du lịch (Triip.me); dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ cho vay ngân hàng…

Cùng với nhiều lợi ích đem lại từ phương thức kinh doanh mới, KTCS đã và đang nảy sinh những khó khăn, thách thức liên quan đến thị trường, cạnh tranh công bằng, năng lực đổi mới sáng tạo và nhất là thách thức đối với công tác quản lý nhà nước về thuế, điều kiện kinh doanh, thanh toán không biên giới, an toàn lao động, bảo hiểm… Thí dụ chính sách thuế đối với Grab, Uber hay "cuộc chiến" giữa Grab với ta-xi truyền thống đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Trong khi đó, thị trường không chờ đợi, các doanh nghiệp khởi nghiệp vẫn không ngừng hiện thực hóa các ý tưởng kinh doanh từ mô hình KTCS để tiết kiệm chi phí giao dịch và nhanh chóng tiếp cận số lượng khách hàng lớn - điều mà các hình thức kinh doanh truyền thống khó đem lại được. Băn khoăn của những người khởi nghiệp là hiện nay, khái niệm KTCS đã mở rộng hơn. Về nguyên tắc, tất cả tài sản dịch vụ đều có thể áp dụng mô hình KTCS, nhưng trong thực tế lại rất khó tìm kiếm động lực mới để hình thành doanh nghiệp chia sẻ ở mức độ cao hơn, nhiều ngành nghề hơn.

Một doanh nghiệp hoạt động theo mô hình KTCS có thể liên quan nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng khi đăng ký ngành nghề kinh doanh rất lúng túng, không biết đăng ký ở đâu, xin phép từng ngành nghề như thế nào. Bởi KTCS có những đặc thù riêng, khó áp theo thủ tục đăng ký kinh doanh đang được áp dụng cho doanh nghiệp kinh doanh truyền thống. Các nhà khởi nghiệp mong muốn, trong khi chưa hoàn thiện hành lang pháp lý, Chính phủ "tạo vùng" thử nghiệm cho KTCS bằng các cơ chế thí điểm trong một thời gian nhất định để khuyến khích kinh doanh, đồng thời hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư nếu có sự thay đổi về chính sách.

Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) chỉ ra ba yếu tố quan trọng thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ, đó là công nghệ, nguồn nhân lực và môi trường pháp lý. Theo đó, cần tận dụng cơ hội cho phát triển kinh tế - xã hội của mô hình KTCS mang lại; coi đó cũng là tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, bắt kịp xu hướng chung của thế giới. Nhanh chóng cải thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo thuận lợi cho việc mở rộng phạm vi các sáng kiến kinh doanh, đào tạo nhân lực, kết nối giữa các bên tham gia hệ sinh thái, thu hút vốn đầu tư mạo hiểm. Ðẩy nhanh thực hiện xây dựng Chính phủ điện tử và cơ sở hạ tầng thông tin, nhất là xây dựng hệ thống dữ liệu mở, thông suốt để phục vụ quản lý nhà nước đối với mô hình KTCS.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không có công thức chung cho một loại dịch vụ KTCS ở các nước, thậm chí ở các thành phố trong cùng quốc gia. Chính sách cho KTCS phải bảo đảm linh hoạt, mục đích là giảm đến mức thấp nhất rủi ro cho tất cả các bên tham gia, nhất là khi mô hình này đem đến việc làm cho càng nhiều lao động. Thực hiện xây dựng Ðề án mô hình kinh tế chia sẻ theo nhiệm vụ Chính phủ giao, Bộ Kế hoạch và Ðầu tư cho biết, sẽ không tách rời mà tiếp cận tổng thể ở cả ba lĩnh vực gồm cách mạng công nghiệp 4.0, KTCS và kinh tế số. Ðể từ đó, có chính sách lồng ghép vào các đề án phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn năm đến mười năm tới, cùng các chương trình mục tiêu chính sách trực tiếp liên quan.

TÔ HÀ