60 năm Quốc hội Việt Nam

Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 - một mốc son lịch sử nhảy vọt về thể chế dân chủ

Thứ Sáu, 17/09/2010, 05:25:00

Cuộc Tổng khởi nghĩa dân tộc Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, chính quyền cách mạng được thành lập trong cả nước. Ngày 25-8-1945, Chủ tịch Ủy ban Giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh trở về Hà Nội. Theo đề nghị của Người, Ủy ban tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (28-8-1945), một chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách chỉ đạo quốc dân, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ dân chủ cộng hòa chính thức.

Ngày 30-8-1945, tại TP Huế, trước hàng vạn quần chúng đến dự, Phái đoàn Chính phủ Trung ương do đồng chí Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ Thông tin - Tuyên truyền làm Trưởng đoàn, thay mặt Chính phủ, đã chấp nhận Tuyên cáo thoái vị của Hoàng đế Bảo Ðại để Chính phủ dân chủ cộng hòa điều khiển quốc dân; triệt để ủng hộ Chính phủ giữ vững nền độc lập nước nhà; giao nộp ấn, kiếm cho Phái đoàn để từ nay trở đi được làm dân tự do của một nước độc lập. Sự thoái vị của Bảo Ðại có ý nghĩa "là đã "hợp pháp hóa", theo một số truyền thống ngày nay đã được thừa nhận trên thế giới, chính quyền cách mạng đã được thừa nhận, hợp pháp hóa một cách vẻ vang..." (1).

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố về quyền dân tộc của các nước trên thế giới là bất khả xâm phạm. Ðó là "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do" (2).

Các nguyên tắc dân tộc, bình đẳng đã được các nước Ðồng minh công nhận ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu kim sơn quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Dân tộc Việt Nam phải được tự do! Dân tộc Việt Nam phải được độc lập!

Chính vì lẽ đó, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập" (3).

Quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam được khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố ngày 2-9-1945 đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng ngay từ đầu khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Việt Nam đã thành một nước độc lập, tự do. Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập là cơ quan điều hành nhà nước cao nhất giữ trọng trách lịch sử, chỉ đạo toàn dân thực thi ngay các nhiệm vụ cấp bách về nội trị, ngoại giao, về quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội đợi đến ngày bầu Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để cử ra một Chính phủ chính thức, hợp pháp, hợp hiến. Việc quy định Hiến pháp, thành lập Chính phủ chính thức là một trong những nhiệm vụ hàng đầu để củng cố và tăng cường chính quyền của nhân dân, cho nên ngay ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, dưới chế độ chuyên chế của thực dân và phong kiến "nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống..." (4). Ðề nghị đó có giá trị lịch sử như một "Tuyên bố lập hiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 8-9-1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 14/SL quy định sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội. Sắc lệnh cũng quy định Quốc hội có toàn quyền ấn định Hiến pháp  cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một Ủy ban dự thảo Hiến pháp gồm bảy thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban đã được thành lập theo Sắc lệnh số 34/SL ngày 20-9-1945. Ngày 17-10-1945, Chính phủ ký Sắc lệnh số 51/SL quy định tổng tuyển cử bằng phổ thông đầu phiếu. Ðây là những sắc lệnh quan trọng đầu tiên về xây dựng quyền làm chủ của công dân Việt Nam đối với vận mệnh đất nước qua việc bầu cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: "Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết" (5). Cuộc chuẩn bị Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trương trong điều kiện vừa kháng chiến ở miền nam, vừa phải giải quyết các nhiệm vụ nội trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội trong cả nước. Ðây thật sự là một cuộc đấu tranh rất gay go, phức tạp. Dựa vào các thế lực của quân đội nước ngoài có mặt trên đất nước ta lúc bấy giờ, các phần tử phản bội Tổ quốc, các tổ chức đối lập, nhất là Việt Quốc, Việt Cách ra sức chống đối Tổng tuyển cử, đưa ra những yêu sách vô lý như đòi chiếm một phần ba số ghế đại biểu trong Quốc hội, đòi giữ các Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên trong Chính phủ...

Chính phủ đã kiên quyết bác bỏ mọi yêu sách vô lý và chống lại mọi âm mưu phá hoại của Việt Quốc và Việt Cách, đồng thời kiên trì và khôn khéo nhân nhượng để tạo sự ổn định tình hình cho cuộc Tổng tuyển cử. Ðại diện của Việt Minh và Việt Quốc, Việt Cách đã thương lượng, ký các văn bản ghi nhận tinh thần, nguyên tắc và các biện pháp hợp tác, trong đó có các điểm quan trọng: coi độc lập và đoàn kết trên hết, ủng hộ Tổng tuyển cử, đình chỉ công kích lẫn nhau, mở rộng Chính phủ lâm thời... Chính vì vậy, ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, mở rộng thêm một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách. Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 18 thành viên, vẫn do Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch kiêm Ngoại giao, Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) là Phó Chủ tịch...

Công tác chuẩn bị Tổng tuyển cử được Chính phủ chỉ đạo chặt chẽ từ Trung ương đến các địa phương. Các ban bầu cử ở các làng, xã do Ủy ban Nhân dân trực tiếp đảm nhiệm.

Những người có tài, có đức muốn lo việc nước đã ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Những người có năng lực hành chính trong các Ủy ban Nhân dân, những thân hào, thân sĩ ra ứng cử cùng đứng tên chung một sổ quốc gia liên hiệp với những người ứng cử của Việt Minh.

Cuộc vận động và tuyên truyền về bầu cử và ứng cử diễn ra sôi nổi và phong phú khắp cả nước. Các cơ quan thông tin đại chúng, nhất là các báo Cứu Quốc, Sự Thật giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, cổ vũ quần chúng, thông tin về Tổng tuyển cử trong cả nước và đấu tranh phê phán sự xuyên tạc của các lực lượng chính trị đối lập. Ðặc biệt, tờ Nhật báo Quốc hội chỉ ra trong thời kỳ Tổng tuyển cử nhằm mục đích nêu rõ giá trị của cuộc Tổng tuyển cử, giới thiệu khả năng, thành tích và chương trình của những người ứng cử...

Danh sách những người ứng cử ở các tỉnh, thành phố... được công bố công khai để nhân dân tự do lựa chọn.

Ngày 6-1-1946, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên - Quốc hội lập hiến của nước Việt Nam diễn ra trong cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, ở Tây Nguyên... Ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng hàng vạn cử tri đã thực hiện quyền lợi công dân trong ngày lịch sử 6-1-1946, ngày hội dân chủ cao nhất của mọi công dân. Người đi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội ở phòng bỏ phiếu đặt tại nhà số 10 phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ). Sau đó, Người còn đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, Ô Ðông Mác.

Cuộc bầu cử tại các tỉnh không có chiến sự ở miền bắc và miền trung diễn ra an toàn, mặc dù một số nơi phải đấu tranh quyết liệt để ngăn chặn sự phá hoại của bọn đối lập cực đoan. Riêng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, cuộc bầu cử diễn ra vô cùng khó khăn, quyết liệt do sự đánh phá của thực dân Pháp. Ở nhiều nơi, máu của cán bộ, chiến sĩ của chúng ta đã đổ. Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, 42 cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ Tổng tuyển cử, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên Ban Quản trị Tổng Công đoàn Nam Bộ. Ở Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Tân An, Tây Nguyên, quân đội Pháp cũng ném bom, bắn phá, làm một số người chết và bị thương.

Cuộc vận động Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 thật sự là một cuộc đấu tranh chính trị vô cùng khó khăn và không kém phần quyết liệt, thậm chí đã đổ máu để thực thi quyền dân chủ chính trị của mọi công dân nước Việt Nam độc lập, tự do ngay trong những tháng đầu cách mạng mới thành công.

Kết quả, cuộc đấu tranh đó đã thành công rực rỡ. Ở 71 tỉnh, thành phố trong cả nước, 89% số cử tri đã đi bầu cử, bầu được 333 đại biểu, trong đó 57% số đại biểu thuộc các đảng phái yêu nước và cách mạng khác nhau, 43% không đảng phái, 10 đại biểu nữ, 34 đại biểu các dân tộc thiểu số. Trong cuộc Tổng tuyển cử này, mọi công dân Việt Nam đều tự do và bình đẳng thực hiện quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội. Trong số hàng nghìn người ra ứng cử, nhân dân đã tự mình lựa chọn bầu được 333 đại biểu. Riêng ở Hà Nội, cử tri đã chọn được sáu đại biểu trong số 74 người ứng cử ở thành phố này. Quốc hội đã hội tụ các đại biểu của cả ba miền bắc, trung, nam, đại diện cho ý chí của dân tộc, có đại diện của các thế hệ người Việt Nam, đại diện của Ðảng Cộng sản, Ðảng Dân chủ, của Việt Minh, các ngành, các giới, các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số, các tôn giáo; có những nhà tư sản dân tộc, công thương, những nhân sĩ, trí thức, kể cả sự có mặt của Vĩnh Thụy, người vừa mới tuyên cáo thoái vị trước đó mấy tháng và những người vốn là quan lại cấp cao của chế độ cũ...

Thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử dẫn đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội ngày 2-3-1946 là một bước tiến của tổ chức cơ quan nhà nước cao nhất của Việt Nam. Quốc hội đã bầu ra Ban Thường trực Quốc hộ do học giả Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban và thành lập Chính phủ chính thức - Chính phủ liên hiệp kháng chiến do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tổ chức nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội và cơ quan hành chính cao nhất là Chính phủ, một Nhà nước của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc, có đủ tư cách pháp lý và uy tín để thực hiện những nhiệm vụ lịch sử trọng đại của đất nước. Ðứng trước tình thế nước nhà đang bị thực dân Pháp xâm lược, Quốc hội đã công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, một vị Chủ tịch được Quốc hội tôn vinh "xứng đáng với Tổ quốc" và "trao quyền bính" cho Chính phủ tùy theo tình thế để thực hiện nhiệm vụ đưa kháng chiến đến thắng lợi và nước nhà đến độc lập hoàn toàn.

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có nhiệm vụ và đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một Hiến pháp dân chủ, khẳng định quyền dân tộc độc lập, thống nhất lãnh thổ, xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa, một chế độ bảo đảm quyền tự do của mọi công dân không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, đặc biệt ưu đãi đối với đồng bào các tộc thiểu số. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ, Ðây là bản "Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà" và cũng là bản Hiến pháp đầu tiên ở Ðông - Nam Á. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã được độc lập, dân Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các tộc người ở Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bằng của các giai cấp.

Quốc hội đã chuẩn y Quyết định ủy nhiệm cho Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội dựa vào các nguyên tắc đã định trong Hiến pháp để ban hành các luật. Với quyết định đó, Quốc hội tiếp tục hoạt động, gánh vác trách nhiệm mới, làm nhiệm vụ lập hiến và lập pháp phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể Việt Nam lúc bấy giờ.

Thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam năm 1946 đã bầu ra Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội đã cử ra Chính phủ chính thức, ấn định cho Việt Nam một Hiến pháp dân chủ, công bằng của các giai cấp là một mốc son đánh dấu bước nhảy vọt lịch sử về thể chế dân chủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi đó là một minh chứng hùng hồn về giá trị sáng tạo và tính thực tiễn của tư tưởng Nhà nước pháp quyền của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

PGS LÊ MẬN HÃN

____

(1) Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, Phần II, NXB Lao động, H.1997, tr.102.

(2), (3), (4), (5) - Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, NXB CTQG, H.1995.

Theo