Kiểm định chất lượng giáo dục còn bị bỏ ngỏ

Thứ Sáu, 11/04/2014, 10:39:09
 Font Size:     |        Print
 

Sinh viên Đại học Y Hà Nội trong giờ thực hành. Ảnh: Minh Hà.

Đã có rất nhiều đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục đại học (GDĐH) ở nước ta chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Mổ xẻ vấn đề, nhiều chuyên gia cho rằng, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới chất lượng giáo dục ở nước ta chưa cao là do thiếu một hệ thống đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) hoàn chỉnh và độc lập.

KĐCLGD là hoạt động đánh giá và công nhận mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác. KĐCLGD gồm có: "KĐCL cơ sở giáo dục" áp dụng đối với tất cả các cấp học và trình độ đào tạo, và "KĐCL chương trình giáo dục" chỉ áp dụng đối với các chương trình giáo dục các trình độ TCCN, CĐ, ĐH, Thạc sĩ và Tiến sĩ.

Vừa lúng túng vừa chậm chạp

Với những nền giáo dục phát triển như: Hoa Kỳ, Anh, Đức,... hệ thống KĐCLGD đã được hoàn chỉnh từ khá sớm. Đơn cử như mô hình giáo dục của Hoa Kỳ với đủ kiểu trường "thượng vàng hạ cám". Song, chính các trung tâm kiểm định uy tín của họ đã góp phần định hướng, tạo niềm tin cho xã hội vào chất lượng các chương trình được kiểm định, bao gồm việc mô tả các dịch vụ cho sinh viên và những thành tích của trường đạt được. Không những thế công tác kiểm định định kỳ được coi như một cơ chế khiến các cơ sở giáo dục muốn tồn tại phải tự giác bảo đảm chất lượng, các nhà tuyển dụng cũng qua đó mà lựa chọn nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu.

Còn ở Việt Nam, vì chưa có một hệ thống kiểm định hoàn chỉnh đã dẫn tới công tác đánh giá chất lượng lâu nay thiếu tính khoa học, nặng cảm tính. Những bất cập này đã gây khó khăn không chỉ cho người học khi lựa chọn sai môi trường, mà còn không tạo được yếu tố cạnh tranh cần thiết để phát triển.

Khởi động từ năm 2002, nhưng sau hơn mười năm KĐCLGD ở Việt Nam vẫn chưa thấy chuyển động rõ rệt, nếu không muốn nói là chậm chạp và lúng túng. Theo số liệu của Bộ GD-ĐT, kết quả triển khai KĐCLGD đến nay mới chỉ có 366 trường đại học, cao đẳng (chiếm 87% số trường trong phạm vi cả nước) hoàn thành báo cáo tự đánh giá. Trong đó, mới chỉ có khoảng 10% số trường được đánh giá ngoài. Tương tự, trong số vài nghìn chương trình GDĐH cũng mới chỉ có 117 chương trình đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá theo các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng do Bộ ban hành, và cũng chỉ 14 chương trình đã được đánh giá ngoài bởi các tổ chức quốc tế.

Suốt quãng thời gian không phải là ngắn, để nói về "thành tựu" KĐCLGD cũng chỉ dừng lại ở góc độ ban hành các văn bản pháp quy. Một hệ thống văn bản bao gồm từ các tiêu chuẩn chất lượng, đến cơ cấu tổ chức, trách nhiệm và nghĩa vụ của các cấp quản lý và các bên liên quan, rồi quy trình và kế hoạch cụ thể đã được xây dựng hoàn chỉnh. Công tác kiểm định cũng đã được đưa vào các văn bản luật ở cấp cao nhất.

Tuy nhiên, việc triển khai kế hoạch trên thực tế diễn ra quá chậm. Không kể vài chục trường đã hoàn tất quy trình đánh giá ngoài trước đây, tuy kết quả vẫn chưa công bố, vài năm qua hoạt động kiểm định hầu như đã ngưng lại, và cho đến nay Việt Nam vẫn chưa hề có một ai được cấp chứng chỉ Kiểm định viên. Thời gian tới, cần phải làm gì để đẩy nhanh tiến độ và tăng hiệu quả công tác kiểm định ở nước ta?

Thước đo và con người

Nói về những khó khăn, hạn chế, ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Khảo thí và KĐCLGD (Bộ Giáo dục và Đào tạo), thừa nhận: So với nhiều nước trên thế giới thì công tác KĐCLGD ở nước ta còn quá mới; các bên liên quan chưa quan tâm thỏa đáng đến công tác này; còn thiếu các chế tài và chính sách khuyến khích thích hợp; chưa có nhiều kinh nghiệm và thiếu đội ngũ chuyên gia làm công tác kiểm định.

Qua thực tế cho thấy, chúng ta đang thiếu cả hai yếu tố quan trọng là "thước đo" và "con người". Mặc dù Đề án "Xây dựng và phát triển hệ thống KĐCLGD đối với GDĐH và TCCN giai đoạn 2011-2020" đã được Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo phê duyệt theo QĐ 4138/QĐ-BGDĐT từ 20-9-2010. Theo đó, giai đoạn I (2011-2015) với nhiệm vụ trọng tâm là khẩn trương hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, thành lập Hội đồng quốc gia KĐCLGD và thành lập ba tổ chức kiểm định của Nhà nước. Nhưng cho đến nay, khi đã quá nửa chặng đường, mới chỉ thành lập được hai Trung tâm KĐCLGD thuộc hai ĐHQG (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), song vẫn chưa chính thức hoạt động. Và, nếu thiếu tinh thần làm việc khẩn trương và khoa học thì tiến độ thực hiện giai đoạn II (2016-2020), với nhiệm vụ củng cố hệ thống các tổ chức KĐCLGD, hình thành các tổ chức kiểm định do tổ chức, cá nhân thành lập, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, triển khai kiểm định các trường và các chương trình GDĐH, xem ra rất khó khả thi.

PGS, TS Nguyễn Quý Thanh, Giám đốc Trung tâm KĐCLGD (ĐHQG Hà Nội) cho biết: Trước mắt, năm nay trung tâm còn phải hoàn thiện các thủ tục để cấp phép hoạt động. Hiện chúng tôi đang đào tạo 35 Kiểm định viên đầu tiên. Tất nhiên, số lượng này không thể đáp ứng được nhu cầu. Cả nước hiện có hơn 760 cơ sở giáo dục đang chờ kiểm định, trong khi công tác đánh giá bình quân phải cần năm Kiểm định viên cho một trường. Theo yêu cầu phải kiểm định 100 trường/năm sẽ là quá tải. Theo đó, giai đoạn đầu Trung tâm chỉ có thể kiểm định khoảng 10 - 20 trường. Nhưng đó mới là kiểm định đơn vị chứ cũng chưa thể kiểm định chương trình được, bởi vì chương trình thì quá nhiều mà hiện vẫn chưa hoàn thiện bộ tiêu chuẩn đánh giá chung, chưa kể còn phải xây dựng rất nhiều bộ tiêu chuẩn các chuyên ngành đặc thù. Để hoàn thiện cơ bản các bộ tiêu chuẩn có khi phải mất đến... hàng chục năm nữa.

Rõ ràng, dù đã được thống nhất về mục tiêu, về tính cấp thiết cũng như yêu cầu và vạch rõ chương trình hành động, hệ thống KĐCLGD dường như mới chỉ vừa... rời vạch xuất phát.

Để hướng đến một nền giáo dục chất lượng và chuyên nghiệp, ngành giáo dục cần khẩn trương hoàn thiện cơ chế, bộ tiêu chuẩn chất lượng; đồng thời chú trọng đào tạo các chuyên gia, kiểm định viên không chỉ giỏi chuyên môn mà còn là vị "quan tòa" liêm chính, là chuyên gia tư vấn, sẵn sàng giúp các cơ sở giáo dục giải quyết khó khăn. Các nhà quản lý cũng phải coi KĐCL như là một giải pháp hiệu quả bảo đảm chất lượng giáo dục chứ không phải là việc làm mang tính đối phó hoặc báo cáo thành tích nhất thời. Bên cạnh đó, cần sớm xây dựng hệ thống giám sát, kiểm định lại việc KĐCLGD nhằm ngăn ngừa những tiêu cực.

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp rồi... thất nghiệp, làm trái ngành, hoặc các đơn vịị tuyển dụng phải đào tạo lại là khá cao (con số bình quân khoảng 30%, thậm chí có khi hơn 50%).

KHÚC HỒNG THIỆN