Thời gian

Chủ Nhật, 22/01/2017, 04:32:22
 Font Size:     |        Print
 

Niềm vui đón xuân về.Ảnh: Hồ Anh Tiến

Các nhà khoa học cho rằng, thời gian là một đại lượng vật chất… Nhưng với tôi, thời gian không bó trong khái niệm trừu tượng, Nó có thể được đo lường từ cái bóng dưới chân mình. Nhìn thấy đấy, nhưng không sờ nắm được, vừa có thật lại vừa không có thật. Mong manh và hư ảo.

Khi còn nhỏ, nhỏ đến mức mới chỉ biết nghe lời mẹ và chỉ mẹ thôi. Chẳng hiểu tại sao lại như thế, có lẽ bởi mẹ hết lòng thương yêu các con và như vậy mẹ luôn luôn và bao giờ cũng đúng! Vào những tháng chúng tôi được nghỉ hè, mẹ bảo: Con xem bóng nắng đổ đến một phần ba tường nhà ngang thì vo gạo nấu cơm. Thế là cả buổi sáng dù là ngồi học, đọc sách hay chơi bời với lũ bạn hàng xóm, mắt tôi vẫn không rời khỏi bức tường của ngôi nhà quay mặt về hướng đông ấy. Khi đường ngói ri của mái nhà như một lưỡi cưa xẻ lớn in trên tường là bỏ mặc tất cả, tôi quay về nấu cơm. Khi vo gạo tôi lấy ngón tay đo, một đốt rưỡi gạo thì cũng bấy nhiêu nước, mẹ tôi dặn như vậy! Nguyên tắc ấy không mấy lúc chính xác bởi gạo cũ, gạo mới, gạo chiêm, gạo mùa và còn bởi cái ngón tay nghịch ngợm của một đứa trẻ… Một hôm đi làm về, mở vung nồi cơm mẹ tôi cười, bảo: Trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét… Đỡ được mẹ rồi nhưng vẫn chưa khéo.

Suốt cả cái quãng đời tuổi thơ ấy, cho dù đã mấy chục năm qua đi nhưng không bao giờ nhạt phai trong tâm tưởng. Đó là một hôm, cũng quãng ấy tôi nổi lửa, rơm rạ mù mịt cuối cùng thì nồi cơm cũng cạn nước. Tôi tắt lửa vun kín bếp để giữ cho than làm chín cơm. Tôi ngồi nhìn bức tường, “lưỡi cưa” cứ lớn dần lên rồi dài ra, lưỡi cưa “ăn” hết bức tường rồi đổ xuống sân gạch mà mẹ vẫn chưa về… Vốn là một đứa trẻ hay hoang tưởng, tôi nghĩ đến nhiều tình huống mà lo sợ. Mặt trời đã sang bên kia bầu trời một thôi thì mẹ về đến nhà. Gánh rạ trên vai mẹ to đến mức phải lựa mãi mới vào được ngõ, được cổng. Khác với mọi hôm mặt mẹ bừng bừng nóng, hôm nay mặt mẹ tái nhợt, đặt gánh rạ xuống mẹ vừa thở vừa nói: Mẹ ôm rạ vô tình có một con rắn trong đó, sợ quá cứ thế mẹ đặt vào và lấy thừng (chạc) thít chặt lại. Có lẽ nó vẫn còn trong gánh rạ này. Tôi tin điều đó vì những người trong xóm bảo: Dù là rạ dài hay ngắn, gánh rạ của mẹ chặt chợm không bao giờ bị xổ ra dọc đường và như thế con rắn có thể chết trong gánh rạ của mẹ cũng nên. Mẹ tôi vốn sợ rắn nhất làng, có hôm chỉ vì nhìn thấy một con rắn trong ruộng mà mẹ mất cả buổi làm. Lúc còn con gái, nhiều người biết vậy lấy rắn dọa, trêu mẹ đến phát khóc lên mới thôi. Tôi cầm một cái gậy, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu khi mẹ rút nút buộc rồi lấy sảo gẩy rạ ra. Tìm mãi mà không thấy con rắn nào… Bóng nắng đã đổ sang chiều, thời gian trôi đi trong tuổi thơ tôi với những nhọc nhằn của mẹ.

Sau đó tôi đã biết xem giờ, thời gian hiện hữu trong tôi qua một cái đồng hồ để bàn. Nghe nói chiếc đồng hồ này bố tôi mua lại của một người thợ chữa đồng hồ ngoài tỉnh. “Tỉnh” ở đây là thị xã Sơn Tây (Hà Nội) cách làng tôi (làng Đường Lâm) ba cây số nhưng không phải chỉ với riêng tôi mà với cả làng, đó là một đời sống khác.

Suốt một thời gian dài cái ám ảnh tôi trong những đêm vắng chính là tiếng chuông báo thức của cái đồng hồ. Đã nhiều lần tôi thập thững bước trong trạng thái nửa thức, nửa ngủ gà ngủ vịt. Vào một buổi sáng chỉ có một mình tôi ở nhà. Chẳng hiểu sao tôi mang cái đồng hồ xuống ngắm nghía. Mặt đồng hồ hình tròn được bao trong một khối kim loại vuông mạ vàng. Tổng thể chiếc đồng hồ này được trình bày như một “khải hoàn môn” với những trang trí gô-tích cực kỳ tinh xảo. Cái đồng hồ chỉ nhỉnh hơn bao thuốc lá mà sao nó lại… kỳ diệu thế nhỉ? Tiện có một con dao Tây nhiều tác dụng của bố, tôi mở nắp sau của cái đồng hồ rồi lần lượt cho “tim, gan, phèo, phổi” của nó ra đầy mặt bàn. Tôi đã ý thức được rằng, cái nào tháo ra trước thì lắp vào sau và cố nhớ bằng được vị trí của từng chi tiết… Ấy vậy mà đã mấy lần làm đi, làm lại mà cái đồng hồ nhà tôi vẫn còn hơn chục chi tiết nữa tôi không biết lắp vào đâu. Quá sợ với những trò nghịch ngợm của mình, tôi đặt đồng hồ vào chỗ cũ nhưng cẩn thận gói tất cả những thứ “thừa” vào một tờ giấy rồi giấu đi…

Những đêm sau đó dĩ nhiên là không có tiếng chuông đồng hồ báo thức, hai mẹ con tôi vẫn ra đồng hái rau. Tôi hỏi mẹ: Không có chuông đồng hồ sao mẹ vẫn dậy đúng giờ. Mẹ tôi bảo: Mẹ cứ ngủ đến cữ ấy là tỉnh. Sau này tôi mới biết đó cũng là một loại đồng hồ, nó được gọi với cái tên: Sinh học!

Thế rồi một hôm mẹ đánh thức tôi trong lúc mắt còn cay xè. Mẹ tôi bảo: Mới chợp mắt mà đã thiếp đi, nhanh lên con, sáng bảnh ra rồi! Cứ thế hai mẹ con gồng gánh ra đồng. Trong đời tôi chưa bao giờ lại thấy quang cảnh đồng làng đẹp như thế. Tất cả cứ sáng choang trong đó đây eo óc tiếng gà gáy vọng tới. Hai mẹ con cứ lúi húi làm trong thứ ánh sáng thần tiên ấy. Thế rồi trời như tối dần lại, mẹ ngẩng nhìn bốn phương trời miệng lẩm bẩm về một cơn mưa trái mùa nào đấy… Bầu trời tuyệt nhiên không có một gợn mây, trên đầu tôi cho đến hôm nay vẫn là một bầu trời thăm thẳm được giát những vì sao lẻ loi lạnh lẽo cứ long lanh sáng. Thì ra đó là một đêm trăng suông!

Mẹ tôi ngồi lặng phắc cho đến lúc trời tang tảng sáng. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không biết mẹ đã nghĩ gì trong cái đêm dài dằng dặng trên cánh đồng ấy. Tôi cảm ơn cái sự sai lệch trong “đồng hồ sinh học” của mẹ. Nếu như cái gì cũng chính xác thì phỏng cuộc đời này còn ý nghĩa gì nữa. Với tôi đó là những khoảnh khắc… “phi thời gian”, khoảnh khắc cho thi ca và nghệ thuật có chỗ để tồn tại…

Tôi lại về quê sau một thời gian mịt mù nơi phố thị, vào đến làng khoảng lưng lửng sáng. Cả làng vắng hoe vắng hoắt, cổng nhà ai cũng im ỉm đóng với một cái khóa hoen gỉ quay ra câm lặng. Vào đến ngõ nhà mình lại càng vắng thêm. Tôi rảo bước và một mình mình, nghe tiếng bước chân mình rộn vang trong từng ngõ nhỏ mà như thấy thời gian ngưng đọng ở đất này. Vẫn những tường đá ong sừng sững chạy dài âm thầm đổ bóng, những mái nhà rêu phong cổ kính như thách thức với năm tháng thời gian. Đây là chiếc cổng đá ong duy nhất còn lại. Nghe nói khi xây chiếc cổng này thợ khai thác đá phải chọn lựa rất kỹ, rồi thợ ngõa phải cẩn thận đẽo gọt đá để kháp mạch (một lối xây rất cầu kỳ).

Mẹ tôi kể: Năm 1947, Pháp tấn công lên Sơn Tây (Hà Nội). Trước khi vào thị xã chúng bắn dọn đường. Từ bến tàu thủy Sơn Tây chúng bắn ca-nông lên làng tôi (làng Mông Phụ) làm rất nhiều ngôi nhà sập đổ ngày hôm đó. Du kích theo lệnh Chính phủ Việt Minh tiến hành “tiêu thổ kháng chiến”. Một số đình chùa bốc cháy ngùn ngụt. Lửa bắt đầu từ Đình Tổng (thờ Bố Cái Đại Vương ở làng Đông Sàng) theo gió may cháy đến hết làng, không còn gì để cháy nữa thì dừng lại... Đây là nhà của một ông Hàn (một hư hàm thời phong kiến), ông Hàn “di cư vào nam”, ông bỏ nhà cửa, trốn làng mà đi năm 1954 vào dịp Tết Nguyên đán. Mẹ tôi kể lại: Khi dân làng phá cửa vào thì mấy mâm cỗ trên bàn thờ nhà đã bị meo mốc, thối giữa… Sau căn nhà này được chia cho mấy nhà nghèo trong làng. Riêng cái đồng hồ quả lắc bán cho một người trong xóm. Từ bấy đến nay cái đồng hồ vẫn đều đặn thả nhịp. Mỗi lần nghe tiếng chuông điểm, tôi như thấy thời gian gieo vào tôi những nhịp lỗi của đời người, của lịch sử… Cứ thế, kỷ niệm ùa về trong mỗi bước chân tôi trên mảnh đất làng. Cũ mới đan xen. Tôi không còn minh định được thời gian nữa… Boong… boong… Bỗng tiếng đồng hồ quả lắc đổ hồi làm tôi giật mình. Không, thời gian là có thật! Vẫn còn nguyên vẹn đây một làng Việt cổ (làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội)…

Hà Nguyên Huyến