Tiếng kêu cứu từ các dòng sông

Thứ Sáu, 20/07/2018, 19:09:29
 Font Size:     |        Print
 

Nhiều doanh nghiệp hướng đến đầu tư những dây chuyền sản xuất hiện đại.

Kỳ IV: Khơi dòng nguồn vật liệu thay thế

Cát tự nhiên không phải là tài nguyên vô tận. Việc khai thác ồ ạt, thiếu quy hoạch chiều sâu làm dần cạn kiệt nguồn tài nguyên và dự kiến sau năm 2020 Việt Nam sẽ không còn cát phục vụ san lấp. Không thể chậm trễ hơn, các cơ quan chức năng cần giải pháp quản lý chặt chẽ nhằm hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạng khai thác cát gây xói lở bờ sông, thay đổi dòng chảy, đồng thời nghiên cứu thêm nhiều vật liệu thay thế, phục vụ nhu cầu xây dựng.

Nguy cơ thiếu cát xây dựng

Theo số liệu thống kê, mỗi năm cả nước sử dụng 130 triệu m³ cát xây dựng, nhu cầu san lấp của giai đoạn 2016-2020 khoảng 2,1-2,3 tỷ m³ cát. Trong khi đó, nguồn cát dự trữ phục vụ cho san lấp đến năm 2020 chỉ còn 2 tỷ m³. Hơn thế Vụ Vật liệu xây dựng (VLXD) - Bộ Xây dựng cũng cho biết, từ năm 2016 đến nay có hơn 10 doanh nghiệp xuất khẩu cát nhiễm mặn, một số doanh nghiệp có giấy phép nhưng không làm thủ tục xuất khẩu. Như vậy, sau năm 2020, Việt Nam sẽ không còn cát phục vụ cho san lấp và dần dần sẽ thiếu cát phục vụ xây dựng. Dự báo nguồn cung cát tự nhiên từ các khu vực khai thác hợp pháp chỉ đáp ứng được khoảng 40-50% nhu cầu.

Bởi thế, nhìn nhận trước về nguy cơ thiếu cát, PGS, TSKH Bạch Ðình Thiên, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng VLXD nhiệt đới - một trong những chuyên gia đầu ngành đang nghiên cứu vật liệu thay thế nêu hiện trạng: Ở Việt Nam vấn đề khan hiếm cát tự nhiên cũng đang trở nên cấp thiết. Ðặc biệt, ở một số vùng khan hiếm cốt tự nhiên, thường xuyên phải nhập cốt liệu cát sông từ nơi khác về phục vụ xây dựng, trong đó có TP Hồ Chí Minh, Ðà Nẵng, Hải Phòng, Bắc Cạn, Hà Giang… Trước tình hình như vậy, Việt Nam đang đẩy mạnh công tác nghiên cứu các nguồn vật liệu thay thế cát tự nhiên, đặc biệt là tận dụng các nguồn chất thải của các ngành công nghiệp đang gây áp lực lớn về diện tích bãi chứa và chôn lấp cũng như các tác động về môi trường.

Cát nhân tạo của Công ty CP Thiên Nam.

Nỗ lực đưa vật liệu thay thế vào thực tế

Ngày 9-6-2017, Chính phủ ra Nghị quyết số 46/NQ-CP, giao Bộ Xây dựng rà soát, báo cáo về tình hình, giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm cát xây dựng; có giải pháp sản xuất vật liệu thay thế cát tự nhiên để hạn chế tình trạng khai thác cát lòng sông. Ngay sau đó, Bộ Xây dựng ban hành Công văn số 1421/BXD-VLXD gửi UBND các tỉnh, thành trong cả nước về thực hiện Nghị quyết số 46/NQ-CP của Chính phủ, đồng thời đề nghị các tỉnh, thành có các giải pháp tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác cát tự nhiên, đẩy mạnh sản xuất và sử dụng cát nhân tạo. Ðến nay, số liệu của Vụ Vật liệu xây dựng cho thấy việc phát triển cơ sở sản xuất cát nhân tạo chủ yếu tập trung tại một số tỉnh như Thái Nguyên, Hà Nam, Sơn La, Lai Châu, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bình Dương, Ðồng Nai… với tổng công suất đạt khoảng 3 triệu m³/năm. Trong đó, riêng tỉnh Hà Nam nhờ có điều kiện về tài nguyên đá vôi, chỉ với ba doanh nghiệp đã đầu tư sản xuất với sản lượng 750.000 m³/năm.

Liên quan đến vấn đề này, ông Phạm Văn Bắc, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), bày tỏ: Thực hiện nhiệm vụ, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp đã tích cực nhập cuộc và sản xuất được cát nhân tạo đạt chất lượng theo quy chuẩn, nhưng chưa được thị trường ưa dùng… Còn theo Viện Nghiên cứu và Ứng dụng VLXD Nhiệt đới, việc đưa thêm nhiều VLXD thay thế là hoàn toàn có cơ sở khoa học và là xu thế tất yếu gồm: cát nhân tạo, cát nghiền, bùn nạo vét, phế thải khai thác đá… Cát nhân tạo được sản xuất từ đá gốc đã loại bỏ đá mạt, nên các yêu cầu kỹ thuật cao hơn. Tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước về cát nhân tạo cũng có nhiều điểm khác biệt, nhưng chủ yếu về chỉ tiêu hàm lượng các hạt dưới 0,15 mm. Thí dụ trong tiêu chuẩn của nước Anh cát nhân tạo BS882 cho phép hàm lượng hạt < 0,15 mm. Hơn thế, ngoài sự tiện lợi là dễ sản xuất, cát nhân tạo cũng có hạt đồng đều hơn cát tự nhiên, có thể điều chỉnh modul và tỷ lệ thành phần hạt theo từng yêu cầu cấp phối cho các loại bê-tông khác nhau.

Ở Việt Nam, trong nghiên cứu so sánh tính chất cơ lý giữa cát nghiền và cát tự nhiên dùng trong bê-tông tại Tây Nam Bộ, thạc sĩ Ðặng Văn Hợi (Trường ÐH Xây dựng Miền tây) khẳng định: Trong cát nghiền hàm lượng bột có đường kính <0,15 mm là khá lớn, điều này có lợi cho bê-tông khối lớn.

Hiện ở nước ta có một số dây chuyền công nghệ đầu tư sản xuất cát từ đá và phụ phẩm khai thác than, như Công ty Sư tử biển (TP Hồ Chí Minh); Công ty Thiên Nam (Quảng Ninh); Công ty Sơn Thủy (Hà Nam)… Ông Vũ Ðình Kiên, Chủ tịch HÐQT kiêm Giám đốc Công ty CP Thiên Nam nêu bật những giá trị về kinh tế khi tái chế, chế biến đá cát kết thải từ các hoạt động khai thác than tại bãi thải của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam: Quảng Ninh gặp khó khăn về khai thác cát tự nhiên, nên việc sử dụng sản phẩm tái chế góp phần làm giảm đáng kể giá thành xây dựng do tiết kiệm được phí vận chuyển. Ngoài ra giúp nhà thầu có thêm thời gian thi công trên diện rộng, đẩy nhanh tiến độ hơn do không phải phụ thuộc vào nguyên liệu tự nhiên từ nơi khác chuyển đến, lại có thể tạo việc làm cho người dân ở khu vực bãi thải.

Mới đây, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng VLXD Nhiệt đới cũng đã nghiên cứu khả năng tái chế phế thải từ phá dỡ công trình xây dựng. Các kết quả nghiên cứu các mẫu vữa có độ chênh lệch về chất lượng không nhiều so với cốt liệu tự nhiên. Bởi thế phế thải từ phá dỡ công trình xây dựng có thể thay thế dùng san nền móng công trình, làm cốt liệu tái chế cho bê-tông và vữa xây dựng.

Phải khẳng định, trên thế giới đã có nhiều dạng vật liệu có thể thay thế một phần hoặc toàn bộ cát tự nhiên, trong đó nổi bật như cát nhân tạo, cát nghiền, cát biển hoặc bùn nạo vét, phế thải khai thác đá, khai thác than, xỉ nhiệt điện, phế thải phá dỡ công trình xây dựng. Ông Lê Văn Tới, Phó Chủ tịch Hội VLXD Việt Nam chia sẻ một bất ngờ: Việc sử dụng cát nhân tạo đã có từ lâu, hầu hết các công trình thủy điện sử dụng hơn 90% cát nhân tạo cho cấp phối bê-tông. Vụ Vật liệu xây dựng cũng khẳng định, việc sử dụng các nguyên liệu thay thế cát đã được ứng dụng từ 10 năm nay. Ðiều đó chứng tỏ cát nhân tạo đã được các cơ quan chức năng công nhận về độ bền, chắc, và sự kiên cố của các công trình thủy điện đã chứng minh những tính năng ưu việt của cát nhân tạo.

Với nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh về tính ưu việt, hiệu quả của cát nhân tạo, song vật liệu này lại chưa được sử dụng phổ biến rộng rãi cho các công trình xây dựng, đặc biệt là công trình của nhà dân do người sử dụng chưa quen dùng. PGS, TSKH Bạch Ðình Thiên cho rằng, vẫn còn nhiều khó khăn trong các cơ chế, chính sách cũng như ứng dụng thực tế cho người sử dụng và các cơ quan chức năng, bởi vậy cần phải tập trung "khơi dần".

Ðâu là giải pháp?

Nêu bật tiềm năng, lợi thế về VLXD thay thế, TS Tống Tôn Kiên, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng VLXD Nhiệt đới, cho hay: Cát nghiền ở Việt Nam hứa hẹn trữ lượng thay thế dồi dào. Cát nghiền sẽ trở thành loại vật liệu thông dụng và sử dụng đại trà nếu có cơ chế khuyến khích sản xuất và công tác tuyên truyền tốt đến người sử dụng. Ở cấp quản lý nhà nước, ông Phạm Văn Bắc, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng, kiến nghị: Bộ Xây dựng sớm hoàn thiện, ban hành quy phạm thi công, thử nghiệm, nghiệm thu, định mức các sản phẩm cát nhân tạo; hướng dẫn điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng khi Thủ tướng Chính phủ chấp thuận việc điều chỉnh giá hợp đồng; Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi Thông tư số 44/2017/TT-BTC phù hợp với thực tế tại các địa phương, đồng thời có cơ chế ưu đãi về thuế để khuyến khích việc sản xuất, sử dụng các loại cát nhân tạo và vật liệu thay thế cát tự nhiên.

Một khía cạnh khác, không ít cán bộ địa phương chia sẻ, nên có biện pháp kinh tế để thị trường tự điều tiết theo quy luật kinh tế, bằng cách tăng phí bảo vệ môi trường đối với cát tự nhiên, bởi hiện mức phí bảo vệ môi trường đối với cát từ 3.000 đến 5.000 đồng/m³ là quá thấp. Cần áp dụng tăng mức phí bảo vệ môi trường bằng việc đánh thuế tài nguyên đối với việc khai thác, sử dụng cát tự nhiên nhằm điều tiết thị trường VLXD.

Người dân ven sông và cả những vùng bờ xôi ruộng mật ven sông thật sự đang "trông chờ" vào sự phát triển của vật liệu thay thế. Chỉ khi nào thói quen tiêu dùng thay đổi, cát nhân tạo được sử dụng đại trà, khi đó mới giảm hẳn được tình trạng hút cát từ các lòng sông, hạn chế được những vết thương của sông ngòi, trả lại cho người dân những cánh đồng mà họ đã canh tác bao đời nay.

Cát nghiền có nhiều chỉ tiêu kỹ thuật tốt, thông qua hệ thống máy nghiền nên có chất lượng ổn định, cấp phối hạt dễ khống chế và thỏa mãn yêu cầu chỉ tiêu về kỹ thuật hơn so với cát tự nhiên. Ngoài ra cát nghiền có hình dạng góc cạnh, bề mặt thô (trong khi đó cát tự nhiên có bề mặt nhẵn), nên có khả năng kết dính tốt hơn.

DIÊN KHÁNH

Chia sẻ