Phải sớm có luật!

Thứ Bảy, 27/10/2018, 00:05:40
 Font Size:     |        Print
 

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, TS Tô Đức, Phó Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một hệ thống văn bản pháp lý riêng đối với sự phát triển của ngành Công tác xã hội (CTXH).

- Chủ trương phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta là lấy con người làm trung tâm. Cụ thể hóa vấn đề này, Hiến pháp năm 2013 đã quy định quyền được bảo đảm an sinh xã hội của người dân, tức là có liên quan đến lĩnh vực công tác xã hội. Và năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020, nhằm thể chế hóa chủ trương trên. Xin ông cho biết khái quát về Đề án?

- Mục đích chung của Đề án là phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.

Hiện nay, ở nước ta, số người dân có nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội ước tính là gần 30% dân số. Mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH và lực lượng những người làm CTXH đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ trên phạm vi cả nước; tuy nhiên, lực lượng những người làm CTXH còn mỏng và chưa chuyên nghiệp, đặc biệt là ở khu vực ngoài nhà nước, khu vực tư nhân. Chính vì thế, chúng ta cần hướng tới xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển nghề CTXH; cho ra đời những văn bản quy phạm pháp luật mang tầm luật để có những điều chỉnh riêng về lĩnh vực CTXH.

- Thời hạn 2020 đang đến gần, ông đánh giá thế nào về kết quả bước đầu khi thực hiện Đề án 32?

- Trong giai đoạn vừa qua, chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu về phát triển nghề CTXH. Mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH đã được hình thành nhiều nhất ở ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, tiếp theo là ở các ngành Y tế, Giáo dục. Đến nay, 63 tỉnh, thành phố có cung cấp dịch vụ CTXH là 418 cơ sở CTXH; 30 trung tâm Điều dưỡng người có công, còn lại là của các tổ chức xã hội; 120 cơ sở cai nghiện và hàng trăm cơ sở dịch vụ việc làm; hầu hết Bệnh viện tuyến Trung ương, nhiều bệnh viện tuyến tỉnh có cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân và cơ sở giáo dục - đào tạo có cung cấp dịch vụ CTXH; hội, đoàn thể chính trị - xã hội các cấp đều có cung cấp dịch vụ CTXH đối với các nhóm yếm thế, đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội…

Đội ngũ làm CTXH trên cả nước hiện đã có vài trăm nghìn người, tạo thành một mạng lưới cán bộ, nhân viên và cộng tác viên CTXH trợ giúp các đối tượng yếm thế ở các cơ sở và cộng đồng, góp phần trợ giúp cho người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận, thụ hưởng các chính sách phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, học nghề, tìm việc làm để ổn định cuộc sống.

Từ một, hai trường đào tạo về CTXH ban đầu thì đến nay, đã có tới 55 trường đại học, cao đẳng và hơn 20 cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo về CTXH, để hằng năm đào tạo hàng nghìn cử nhân về CTXH cho cộng đồng.

Bên cạnh đó, nhận thức về vai trò, vị trí của nghề CTXH trong quá trình xây dựng nền an sinh xã hội tiên tiến của đất nước ở nhiều cấp, ngành đã có sự thay đổi.

- Những dẫn chứng ông đưa ra khá tích cực. Nhưng hiện vẫn có nhiều cá nhân, tổ chức gặp nhiều khó khăn trong hoạt động nghề nghiệp CTXH. Vì sao vậy, thưa ông?

- Những người làm CTXH có nhiệm vụ nhằm hỗ trợ các cá nhân, nhóm, gia đình và cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội. Trong khi áp lực về nghĩa vụ đối với nghề nghiệp đặt lên vai những người này là rất lớn thì hiện tại chúng ta lại chưa có Luật quy định cơ sở pháp lý bảo đảm an toàn cho họ trong quá trình hành nghề; đặc biệt là khu vực ngoài nhà nước, khu vực tư nhân. Nhiều vụ việc đáng tiếc vô cùng thương tâm đã xảy ra, đe dọa và thậm chí là cướp đi tính mạng của người hành nghề CTXH; vấn đề bảo đảm sự an toàn của người làm CTXH trong những tình huống có những bạo lực, bạo hành hay khi tiếp xúc làm việc với những người có vấn đề về sức khỏe tâm thần; đặc biệt là người mắc bệnh tâm thần phân liệt là vô cùng cần thiết. Bên cạnh đó, khung khổ pháp lý phát triển nghề CTXH chưa được quy định rõ ràng, hoàn chỉnh, đặc biệt là vai trò, nhiệm vụ của công chức, viên chức, nhân viên công tác xã hội; cấp chứng chỉ hành nghề; giấy phép hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ CTXH chưa được xác định cụ thể trong các Luật nêu trên; chưa có Luật quy định riêng về CTXH làm cơ sở cho các Luật chuyên ngành quy định về CTXH đặc thù của ngành, lĩnh vực.

- Như vậy, hành lang pháp lý để hỗ trợ, bảo vệ người hành nghề CTXH và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này là nhu cầu tất yếu?

- Khi chúng ta chưa có văn bản tầm luật quy định về vai trò, vị trí, chức năng của người làm CTXH thì người làm CTXH sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, thực hiện các biện pháp can thiệp, trợ giúp cho nhiều nhóm đối tượng như nhóm đối tượng trẻ em bị bạo lực, bạo hành, nạn nhân bị xâm hại, người có vấn đề về sức khỏe tâm thần, người khuyết tật... Chính vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế chính sách về phát triển CTXH là vô cùng cần thiết.

Hiện nay, hàng chục quốc gia khu vực ASEAN, châu Á, đặc biệt là các quốc gia phát triển đã xây dựng Luật CTXH. Căn cứ Hiến pháp năm 2013 với quy định về quyền được bảo đảm an sinh xã hội của công dân, chúng ta cần xây dựng Luật CTXH để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này.

- Xin cảm ơn ông!

KIỀU NHI (thực hiện)

Chia sẻ