Nhân lực cho điện hạt nhân

Ðòi hỏi cấp bách

Thứ Sáu, 17/08/2012, 03:35:00
 Font Size:     |        Print
 

Phòng thí nghiệm Nano (ÐH Quốc gia Hà Nội). Ảnh: BÙI TUẤN
Trong khi nhiều dự án phát triển nguồn năng lượng nguyên tử đang được xúc tiến, đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ nhân lực chất lượng cao về công nghệ điện hạt nhân đang là vấn đề cấp bách hiện nay.

Theo Vụ trưởng Khoa học và Công nghệ (Bộ Giáo dục và Ðào tạo) PGS,TS Tạ Ðức Thịnh: Chính phủ đã đề ra Chiến lược và Kế hoạch tổng thể thực hiện chương trình ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020. Trong đó, giao cho Bộ GD và ÐT xây dựng và triển khai Ðề án "Ðào tạo và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ hạt nhân". Cụ thể các nhiệm vụ được đặt ra là cần sử dụng các chương trình đào tạo tiên tiến đạt chuẩn quốc tế; bảo đảm về số lượng và chất lượng. Ðến năm 2020, đào tạo được nguồn nhân lực khoa học và công nghệ hạt nhân đủ về số lượng và chất lượng để tiếp nhận chuyển giao công nghệ, vận hành, duy tu, bảo dưỡng, quản lý nhà máy điện hạt nhân và tiến tới từng bước nội địa hóa, tự chủ về công nghệ.

Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là để phát triển năng lượng nguyên tử, nhất là điện hạt nhân theo như lộ trình của Chính phủ cần phát triển cơ sở hạ tầng, đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật trình độ cao. Và để thực hiện việc này, phải có nguồn nhân lực trình độ cao để điều hành các hoạt động liên quan. Kinh nghiệm cho thấy, những sai sót của người vận hành là nhân tố chính gây các sự cố ở nhà máy điện hạt nhân, phần lớn trong đó lại có nguyên nhân từ những thiếu sót trong khâu đào tạo. Chính vì thế, trong xây dựng nhà máy điện hạt nhân, con người là nhân tố quyết định thành công.

Thực tế hiện nay, nhân lực liên quan đến lĩnh vực hạt nhân trên cả nước chỉ có 505 cán bộ có trình độ đại học trở lên, tốt nghiệp các chuyên ngành hạt nhân khác nhau. Trong đó chỉ có 62 tiến sĩ cho cả bốn lĩnh vực: Vật lý hạt nhân, Vật lý và công nghệ lò phản ứng, Hóa học phóng xạ, Sinh học phóng xạ. Theo kết quả khảo sát của cơ quan chức năng, độ tuổi trung bình của các cán bộ trong biên chế là 40; các cán bộ có trình độ tiến sĩ có tuổi trung bình là 50. Trong số 12 giáo sư, phó giáo sư thì bốn người đã ở tuổi từ 60 đến 62, số còn lại cũng ở độ tuổi từ 50 đến 55. Như vậy, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ hạt nhân của nước ta hiện tại đang thiếu cả về số lượng và chất lượng, nhất là rất thiếu các nhà khoa học đầu đàn.

Các cán bộ khoa học và công nghệ hạt nhân hiện nay chủ yếu đang làm việc trong các cơ quan: Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (Bộ Khoa học và Công nghệ), Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (EVN), cùng một số trường đại học và bệnh viện lớn.

Trong khi đó, hiện trên cả nước chỉ có năm trường đại học đang tham gia đào tạo ngành và chuyên ngành về hạt nhân, là ÐH Khoa học Tự nhiên (ÐHQG Hà Nội), ÐH Khoa học Tự nhiên (ÐHQG TP Hồ Chí Minh), ÐH Bách khoa Hà Nội, ÐH Ðà Lạt, ÐH Ðiện lực. Trong cả năm trường đại học hiện chỉ có ba phó giáo sư, chín tiến sĩ, 21 thạc sĩ và 15 kỹ sư, cử nhân. Do thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng nên hoạt động đào tạo và phát triển nhân lực chuyên ngành hạt nhân của các trường đại học rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. 

Viện Nghiên cứu hạt nhân (thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam), được thành lập từ cuối những năm 70 của thế kỷ trước, trên cơ sở tiếp quản Trung tâm Nguyên tử Ðà Lạt với Lò phản ứng hạt nhân Triga-Mark do Mỹ xây dựng những năm đầu 1960. Hiện tại, tổng số cán bộ, nhân viên của Viện là 185 người, trong đó 120 cán bộ có trình độ đại học trở lên, một PGS Vật lý hạt nhân, một PGS Hóa học phóng xạ, hai tiến sĩ Vật lý hạt nhân, một tiến sĩ Hóa học phóng xạ, hai tiến sĩ Sinh học phóng xạ, 32 thạc sĩ và 81 kỹ sư, cử nhân các chuyên ngành trên. Hay như Trung tâm Vật lý hạt nhân, Viện Vật lý và Ðiện tử thuộc Viện KH-CN Việt Nam đặt tại Hà Nội. Trung tâm cũng chỉ có ba GS và PGS, ba tiến sĩ, năm thạc sĩ và bốn kỹ sư. Trung tâm là nơi đặt máy gia tốc đầu tiên của Việt Nam, máy gia tốc Microtron gia tốc electron đến năng lượng 15 MeV. Trung tâm chủ yếu nghiên cứu các phản ứng hạt nhân sử dụng máy gia tốc. Còn ở các ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong các lĩnh vực y tế, công nghiệp, nông nghiệp, thăm dò khoáng sản..., nguồn nhân lực hiện rất ít và việc đào tạo nhân lực các chuyên ngành hạt nhân phục vụ ứng dụng trong các lĩnh vực này vẫn chưa được tiến hành.

Trong khi đó, theo khuyến cáo của Tổ chức năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), và một số cơ quan về điện hạt nhân khác thì nhân lực cần cho một nhà máy điện hạt nhân công suất 2.000 MW phải khoảng 1.000 người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên. Mới đây, Bộ GD và ÐT cũng đã tuyển chọn và gửi một số sinh viên chuyên ngành năng lượng hạt nhân đi đào tạo ở nước ngoài. Tuy vậy, số lượng này là chưa đáng kể so với đòi hỏi của thực tế. Với điều kiện Việt Nam, vấn đề đặt ra là để bảo đảm tiếp nhận chuyển giao công nghệ, vận hành, duy tu, bảo dưỡng nhà máy an toàn rất cần gấp rút đẩy mạnh đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tế.

* Theo kế hoạch của Chính phủ, đến năm 2020 sẽ có hai nhà máy điện hạt nhân với tổng công suất là 4.000MW và trong tương lai sẽ có thêm nhiều nhà máy điện hạt nhân khác. Năng lượng nguyên tử còn được sử dụng rất đa dạng trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp, thăm dò khoáng sản...

HOÀNH GIA
Theo: