"Tiếp lửa" cho các nhà khoa học nữ

Thứ Năm, 18/10/2012, 03:20:00
 Font Size:     |        Print
 

Gia đình và xã hội cần tạo điều kiện hơn nữa để các nhà khoa học nữ yên tâm công tác.  
Ðam mê, nhiệt huyết, nhưng từ gia đình đến với các hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ là con đường đầy chông gai mà không phải người phụ nữ nào cũng đủ sức mạnh vượt qua. Dẫu Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ, cùng với sự tiến bộ, đi lên của đời sống kinh tế - xã hội, thì ở các hội nghị khoa học vẫn cứ thiếu vắng nhà khoa học nữ.

Chưa hết định kiến

Khác với nam giới, khó khăn nhất đối với người phụ nữ làm khoa học là làm sao cân đối được việc gia đình để dồn tâm sức cho nghiên cứu khoa học (NCKH). Bởi, dù có làm việc gì thì người phụ nữ vẫn phải chăm sóc gia đình, hoàn thành trách nhiệm làm vợ, làm mẹ. Hai chữ "việc nhà" gói gọn ấy đã lấy đi quá nhiều thời gian, cho nên dù cố gắng cũng đã không ít phụ nữ phải tạm gác đam mê khoa học. Trong khi, các chương trình an sinh xã hội chưa bảo đảm điều kiện cần thiết hỗ trợ nữ trí thức thực hiện vai trò làm vợ, làm mẹ, thì nhiều cán bộ nữ bị quá tải về công việc, thiếu thời gian nghỉ ngơi, gánh nặng gia đình làm giảm sút sự thăng tiến. Từ đó dẫn đến hậu quả hoặc là không ít người từ bỏ hẳn công việc hoặc làm việc cầm chừng, an phận, không nỗ lực phấn đấu. Ðơn cử sinh viên ngành sinh học, rất nhiều em giỏi và đạt các giải khoa học sinh viên, nhưng sau khi lập gia đình thì "những ngôi sao đã vội tắt trên nền trời khoa học".

Cũng phải nói thêm, định kiến về giới trong xã hội còn nặng nề đối với phụ nữ, ảnh hưởng đến sự tham gia làm khoa học của phụ nữ. Ví như, có hai người năng lực tương đương, thì hình như trong nhiều trường hợp nam vẫn được ưu ái hơn nữ. Tất nhiên vẫn có một số phụ nữ được tin tưởng và tín nhiệm, nhưng nhìn chung, người ta vẫn có phần e ngại khi giao những nhiệm vụ chủ chốt cho nữ giới. Về điều này, PGS, TS Nguyễn Thị Việt Thanh - Phó Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, cho biết: "Ở Việt Nam và nhiều quốc gia thể hiện rõ sự phân biệt giới tính, khi một nhóm người mang những tiêu chí tương tự như nam giới thì được gắn thêm chữ "nữ", tạo thành các từ ghép như "nữ nhà văn", "nữ công an", "nữ bác sĩ", "nữ quân nhân"... mà chẳng bao giờ có chữ "nam công an"... Về phía các gia đình, ngay từ khi chọn ngành học đã muốn con gái đỡ phải lao tâm khổ tứ, nên hướng cho học cái gì nhàn thân, dễ kiếm tiền".

Phát huy sức mạnh phái nữ

Ðể trở thành nhà khoa học "vàng" của ngành điện, chế tạo thành công máy biến áp 220 kV và 500 kV, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, kỹ sư Nguyễn Thị Nguyệt đã phải trải qua vô vàn gian nan, vất vả. Công tác tại Công ty cổ phần Chế tạo Thiết bị điện Ðông Anh và không chấp nhận chỉ là cán bộ bình thường, bà đã tích cực nghiên cứu, học hỏi nhiều năm trời. Có thời kỳ bà ăn bên biến áp, ngủ bên biến áp và mơ thấy mình... thành công với biến áp. Nhiều đêm, bà thức đến gần sáng, vẽ rồi lại xé, xé xong lại ngồi cần mẫn vẽ từng chi tiết máy. Vừa làm việc lại vừa phải chăm con. Có độ con sốt, bà chỉ định chạy qua cơ quan một chút rồi về, ai ngờ say việc quá, quên mất con. Ðến khi về, cậu con sốt cao cứ ngằn ngặt khóc, bà lại tá hỏa ôm con đi bệnh viện.

Ngành khoa học còn tự hào về nhiều tấm gương "giỏi việc nước, đảm việc nhà" như PGS, TS Nguyễn Thị Trâm, đã thành công trong việc lai tạo ra nhiều tổ hợp lúa lai hai dòng; hay PGS, TS Lương Chi Mai (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã có nhiều đóng góp cho việc tạo ra các hệ thống nhận dạng; PGS, TS Phan Thị Tươi (Ðại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh) là một trong những người đi tiên phong ở lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên bằng máy tính, góp phần quan trọng vào việc hình thành hướng nghiên cứu về "xử lý ngôn ngữ tự nhiên và tiếng Việt"... Thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học khá đa dạng, điều đáng lưu ý là những thành tựu ứng dụng không phải là ngẫu nhiên mà hầu hết đều là kết quả của quá trình nghiên cứu cơ bản, có định hướng trong nhiều năm. Ðể có kết quả như vậy thậm chí họ còn bỏ công sức gấp đôi nam giới. Cũng có trường hợp phải quên hạnh phúc riêng, hy sinh những nhu cầu đời thường để dành thời gian, tình yêu cho khoa học.

Trong 27 năm qua, có tới 38 cá nhân nhà khoa học nữ xuất sắc nhận giải thưởng Cô-va-lép-xcai-a (Kovalevskaia). Nhiều nhà khoa học nữ vinh dự nhận Giải thưởng quốc tế "Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học" do UNESCO - L’Oreál trao tặng. Những giải thưởng này ít nhiều tôn vinh, đánh giá đúng năng lực và nỗ lực cống hiến của các nhà khoa học nữ. Nhưng đó vẫn chỉ là sự khích lệ phần nào. Ðể tương xứng với tiềm năng và yêu cầu của đất nước, vẫn cần những chiến lược cụ thể, bài bản hơn cho khoa học. Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hà cho biết: "Nhiều chính sách đã tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ trí thức, tạo niềm tin và động lực cống hiến. Tuy nhiên, rất ít chính sách dành riêng cho nữ trí thức, đặc biệt là những chính sách chiến lược. Thí dụ quy định "cần có chế độ trợ cấp cho cán bộ nữ được cử đi đào tạo" nhưng lại không  định rõ mức bao nhiêu. Luật Bình đẳng giới quy định rõ nam nữ bình đẳng trong đề bạt, bổ nhiệm, trong đào tạo bồi dưỡng nhưng ở một số văn bản hiện đang thực hiện lại có quy định khác biệt".

Tiềm năng của nữ trí thức là rất lớn. Nhiều người có khả năng NCKH chuyên sâu, nhưng họ cần sự ủng hộ của gia đình và xã hội, các chính sách bài bản, vừa tạo điều kiện vừa "thắp lửa" đam mê, phát triển nguồn nhân lực nữ. Mong rằng, đội ngũ các nhà khoa học nữ sẽ ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong sự nghiệp phát triển khoa học - công nghệ của đất nước.

* Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong những năm qua, tỷ lệ phụ nữ tham gia NCKH không ngừng tăng. Ở giai đoạn 2000 - 2010, tỷ lệ phụ nữ chủ trì đề tài khoa học cấp nhà nước đạt 20%. Trong 5 năm (2007 - 2012), trong tổng số giáo sư, phó giáo sư được phong tặng có 10,27% giáo sư và 25,78% phó giáo sư là nữ.

DIÊN KHÁNH
Theo: