Người của rừng

Thứ Tư, 24/11/2010, 02:18:00
 Font Size:     |        Print

- Quên rồi!

- Việc gì thế ông? - Tôi hỏi.

- Con dao. Tôi đã quen, cứ ra khỏi nhà là phải có nó.

Lát sau, ông trở lại với con dao rừng cán dài.

Nhìn ông bây giờ không khác gì một thổ dân: Mũ cối, giày vải, dao quắm, tay nải vải. Ðã vào tuổi sáu tám, hơn tôi vài ba tuổi, nhưng ông còn trẻ và khỏe. Dù dãi dầu mưa nắng nhưng da vẫn hồng hào săn chắc. Tôi nhìn bước đi ông thoăn thoắt, nghe giọng nói sang sảng, thầm nghĩ, người như ông còn thọ lắm.

- Ông được mấy anh, chị rồi?

- Bảy. Ông xem đẻ có khiếp không! Lấy vợ từ năm mười bảy tuổi, mười chín tuổi đã có con. Quê tôi hồi ấy như thế chứ như bây giờ phải mang tôi ra xử chém - ông cười vang.

Ông dẫn tôi ngược lên núi, men theo con đường mòn, luôn tay phát những cành cây chìa ra cản lối đi. Mới chỉ leo một đoạn, tôi đã thở dốc, mồ hôi vã ra như tắm. Ông ái ngại nhìn tôi:

- Mẽ ông không quen với núi rừng. Cố đi đoạn nữa rồi nghỉ.

Tôi và ông dừng lại chỗ bóng mát của mấy cây dẻ. Phía trước mặt tôi là hồ rộng và ba bề bốn bên là núi rừng xanh ngắt. Tít xa xa lại trùng điệp núi. Người ta gọi dải đất này là đại ngàn - ngàn Bảo Ðài, dãy núi án ngữ một vùng đông bắc của tỉnh Bắc Giang cho đô thành. Ngày xưa đây là nơi phòng thủ từ xa để bảo vệ kinh đô của nhiều vương triều và cũng là nơi ẩn nấp, lánh loạn của nhiều quan quân triều đình. Tôi gợi chuyện:

- Cũng lạ, ông lại lên đây. Nghe nói nhà ông ở Bảo Ðài rộng lắm, những hai chục gian ngói lại bao nhiêu chậu cây cảnh.

Ông tủm tỉm cười:

- Thế mới có chuyện. Chả là thế này...

Thì ra vốn là người mê cây cảnh, ông theo người ta mách đã vào rừng Bảo Sơn để kiếm cây, hoa lạ. Nhà ông ở Bảo Ðài, giáp với Bảo Sơn. Lần ấy, ông kinh ngạc nhận ra rừng Bảo Sơn có quá nhiều đồi núi trống chứ không như người bạn kể. Ông kinh ngạc cũng phải. Nghe người Bảo Sơn nói lại, chỉ cách đó vài năm - tức là từ năm 1980 trở về trước - rừng xã này còn hổ, báo, cây cối bạt ngàn, âm u, đi cả ngày không bị nắng. Vậy mà bây giờ... Chuyện vào Bảo Sơn cũng qua đi, ông cũng biết vậy vì vẫn còn đang công tác trong ngành công nghiệp tỉnh.

- Vậy là năm 1996, ông mới vào đây? - Tôi giục ông kể tiếp khi ông lúi húi gỡ cái dây gì đó trong bụi cây.

- Hả? Vào đây ư? Năm 1997 - ông trở lại chỗ tôi ngồi - Phải nói cụ thể đầu cuối câu chuyện thế này...

Những năm chín mươi của thế kỷ trước, cây vải thiều của Lục Ngạn (xuất xứ từ Hải Dương) sau bao năm ủ ê, lãng quên bỗng trở nên sáng giá. Vải thiều Lục Ngạn trùng điệp khắp đồi bãi, và lập tức lan rộng ra các huyện trung du, miền núi Bắc Giang. Ấy là cây xóa đói, giảm nghèo, cây triệu phú. Về hưu sớm, gọi là hưu non vì gia cảnh, ông Phiên nghĩ ngay tới đồi núi trọc bỏ hoang hóa ở Ðại Ngàn Bảo Sơn. Ðến đây, ông mới cảm nhận hết xót xa cay đắng khi rừng bị tàn phá - nhất là khi nhiều người thờ ơ với rừng và tiếp sức cho kẻ phá rừng. Thế là gom góp số tiền của gia đình, ông mua bốn héc-ta của một người quen ở Bảo Sơn với cái giá chưa đầy ba triệu đồng.

- Giời ạ, sao rẻ thế? Bán cứ như cho! - Tôi ngắt ngang câu chuyện.

- Tiền hồi ấy có giá - ông cự lại - Nói thật với ông, tôi cũng mua liều, bị khối người chê trách, mỉa mai. Giá mà ông, không chắc đã mua vì trông quang cảnh thảm lắm.

Sự thảm lắm là vì đồi núi trọc loang lổ bên cạnh những khu rừng rỗng với cây hoang dại. Hàng ngàn trâu, bò thả rông trong rừng. Người ta đốt rừng để có cỏ non cho chúng. Rừng dẻ bị đốn sạch. Chả là củi dẻ có giá rất cao. Người làng xã, người tứ xứ kéo vào phá rừng, phá lấy phá để - từ cây quý để làm nhà cửa cho tới cây thập cẩm làm củi. Cũng chả có lực lượng nào giữ nổi. Ðã thế vải thiều ở đây sụt giá khủng khiếp, cho mà vẫn không đắt vì chất lượng quả kém, lại thêm đường đất xa xôi. Bởi vậy mấy trang trại cạnh vườn ông Phiên đã phải ngán ngẩm từ bỏ mộng ước, hồ hởi nhượng lại lâm viên cho ông Phiên mà thâm tâm nghi ngờ, giễu cợt kế hoạch tái tạo rừng của người mua. Nhờ thế, chỉ trong mấy năm, ông Phiên đã mua lại các trang trại để  bây giờ có tới 100 ha rừng.

- Thế nào ông, ta đi tiếp chứ?

Ông phăm phăm đi trước, luôn miệng giới thiệu về các cây lấy gỗ, ăn quả mới trồng. Xa một quãng ở phía trước là rừng keo, bạch đàn, tiếp đến là dẻ. Ở sườn núi thoai thoải gần hồ là dứa. Phía trên mấy quả núi là lát hoa, tre Bát Ðộ, là xà cừ, vải thiều, xoài... Tôi nghe biết vậy, chứ thực tình vừa đi vừa phải chú ý tới đường vì có quá nhiều cây chắn ngang.

- Ông tài thật. Từ đồi núi trọc thành rừng, nhìn bên ngoài cứ ngỡ là rừng nguyên sinh.

Ông Phiên oang oang:

- Tài cán gì đâu. Mình quyết tâm nhưng lại gặp thời, gặp người. Không có Nhà nước hỗ trợ, hẳn chẳng thành.

Ông bảo rằng, người dân phá rừng do chủ yếu là đói. Ðói thì đầu gối phải bò. Những năm chín mươi, dân vùng này túng thiếu quá. Ruộng thì cấy một vụ mà cũng không ăn chắc, vì trông vào nước trời. Hệ thống thủy lợi không có. Ðường đất xa xôi, khó đi. Vậy chỉ có vào rừng khai thác lâm sản để kiếm sống.

'Tôi nghĩ, trồng rừng khó nhưng khó hơn cả là bảo vệ. Một người trồng, trăm người phá thì tài thánh cũng chịu. Mà giữ mấy chục héc-ta ban đầu, nay là trăm héc-ta, có mấy chục người giữ cũng không xuể. Vậy là phải nhờ cả cộng đồng, tức là phải được lòng dân...'.

Việc đầu tiên ông làm là mở đường. Trước, từ bản người Tày gần nhất cũng không có đường vào rừng. Rồi lại phải có nước để trồng trọt. Vậy là ông  bán xe máy để dồn tiền làm đường, làm đập, tổng cộng hơn hai chục triệu đồng. Ðó là năm 1997. Số tiền ấy ở thời điểm đó cũng không phải là nhỏ. Tiếp đến, ông mắc điện từ ngoài vào nơi mình ở. Năm 1998 có dự án PAM (tổ chức của Chương trình lương thực thế giới). Ông được tham gia do có kế hoạch cụ thể trồng rừng. Nhờ có gạo cung cấp suốt ba năm mà ông nuôi nhân công. Về tiền công, ông trả bằng củi. Hồi đó người dân lên rừng đốn cây để làm củi, gánh gồng ra bán ở chợ. Người làm cho ông được cơm ăn, củi bán, vậy là yên tâm.

Ngồi hàn huyên với ông mới thấy ông tài thu phục lòng dân. Ông sẵn sàng cho bà con trong bản mượn tiền mua trâu, bò, mượn đồi để trồng ngô, sắn; gần gụi bà con người Tày dù họ ở khá xa - cách ba, bốn cây số. Ông bảo người đốn tỉa cây rừng bó củi khô để từng chỗ. Ðám trẻ lên chặt trộm cây, giờ chỉ có việc cõng vác bó củi sẵn về nhà. Chúng vui vẻ sẵn sàng cuốc hố trồng cây, tưới trồng cho ông. Có hôm muộn, ông nấu cơm cho chúng ăn. Những rừng dẻ tái sinh vô vàn quả. Ông cho mọi người đến thu hoạch, không lấy tiền. Vậy nên rừng dẻ được giữ nguyên. Rồi ông lập ra hội trồng rừng trong xã, kết hợp với nhà trường trong việc bảo vệ rừng. Mấy năm lại đây, vùng này đã có hệ thống thủy lợi. Dân cấy hai vụ lúa, phát triển cây màu. Công cuộc đổi mới đất nước đã làm dân no ấm. Bây giờ chả có người nào lên rừng đốn củi vì giá củi không bõ công mang về.

'Ông hỏi tôi có cách nào để trồng nhanh rừng? - Ông Phiên tươi cười, quay sang tôi - Phải lấy ngắn nuôi dài; phải kết hợp các loại cây, các loại hình kinh tế. Tôi trồng keo, bạch đàn nhưng ban đầu cũng phải có vải thiều, xoài, mít, cam. Rồi cây Hibicus. Rồi nuôi bò, dê. Rồi thả cá...'.

Ông có người con làm ở Hà Nội đưa về nhà mấy cân hạt Hibicus. Cây này có hoa để làm rượu vang. Ðây là thứ cây còn quá xa lạ ở vùng đất này. Ðược biết chắc chắn có nơi tiêu thụ, ông cho nhiều gia đình gieo hạt. Giống cây này rất hấp dẫn mà chẳng phải chăm sóc. Với hợp đồng đã ký một nhà máy, ông trở thành đại lý tiêu thụ. Số tiền 200 triệu đồng thu được ông dồn cho nuôi bò, dê, lợn rừng. Tiền lãi, ông đầu tư cho cây, cho cá. Khi ế tắc cây hoa này, ông chuyển sang nuôi trồng khác. Bây giờ ông là chủ của trang trại rừng đồi với 100 ha, trong đó có 30 ha dẻ, còn lại là bạt ngàn keo tai tượng, keo lai rồi đến lát hoa, muồng, tre, nhãn, hồng, vải thiều và hai héc-ta hồ suối. Cách đây hai năm, ông dựng một căn nhà sàn đồ sộ mua từ Lạng Sơn. Tôi bảo:

- Nay ông là tỷ phú rồi. Ông đang ngồi trên đống vàng đống bạc, sống trọn đời cũng chẳng lo hết tiền.

Ông Phiên tủm tỉm cười:

- Ðúng tôi là tỷ phú nhưng là tỷ phú gió, cây cối, môi trường, tĩnh tâm, yên ả. Tôi đủ ăn đủ mặc rồi. Chỉ cần riêng lương hưu, vợ chồng tôi cũng đủ sống. Tôi trồng rừng, giữ rừng cũng là vì muốn rừng còn mãi mãi  chứ đâu chỉ nhằm kinh doanh nhất thời. Có khu rừng hiện nay cũng là nhờ con cháu tôi hết sức ủng hộ. Ông bảo, không có con cái đổ tiền vào thì tôi làm sao gánh vác nổi. Mà cũng không có Nhà nước giúp sức, tôi có sức đâu để đeo đuổi nguyện ước của mình.

- Thế ra nhà ở Bảo Ðài, ông bỏ không?

- Hiện giờ nhà ấy vẫn đóng cửa, nhờ đứa cháu trông. Năm 1997, tôi một mình vào đây, dựng lều cỏ ở. Năm sau, vợ tôi tới. Vậy là đã mười một năm rồi vợ chồng tôi ở chỗ này, và chắc chắn sẽ sống hết đời. Ngày nghỉ, ngày Tết, con cháu ở thành phố Bắc Giang, Hà Nội đều về trang trại này.

- Liệu có con cháu nào sẽ về đây kế nghiệp ông?

- Cũng chả biết nữa. Nhưng tôi tin sẽ có thằng con khi về hưu gánh cơ đồ này - ông vỗ mạnh vào cánh tay tôi - Từ đồi trống núi trọc, nay đã là vô vàn rừng. Tôi làm được nên nhiều người cũng làm theo. Bây giờ mới phục hồi được cái danh rừng đại ngàn. Ông tính, thế có sướng không?

Theo ông, tôi đứng dậy, mải miết leo tới sườn núi - nơi vừa dặm ít keo lai. Gió ào ạt thổi từ khe núi làm run bần bật những tàu lá trước mặt. Phía trước là hồ xanh ngắt bị chặn bởi cái đập vừa tân tạo sau mùa lũ, là những đồi núi trập trùng xanh ngắt - xanh đến nao lòng, và chếch một bên là căn nhà sàn bề thế  mà duyên dáng nép mình bên chân núi trong thấp thoáng rặng cây. Ðúng là sơn thủy hữu tình.

- Tôi sẽ biến nơi đây là khu du lịch sinh thái. Sẽ tôn tạo đường. Sẽ mở rộng hồ suối. Sẽ có chùa đàng hoàng. Ông biết không, nơi đây thời nhà Mạc đã từng có đại bản doanh, và đã có chùa. Dấu tích đền, chùa vẫn còn ở ngay sườn núi này - chỗ lâm viên của tôi. Mà này...

Vẫn đứng trên sườn núi, ông Phiên say sưa kể về những dự định tới, những  cái còn ẩn chứa của vùng đất nơi đây. Tôi nghe câu được câu chăng vì đang mải mê ngắm phong cảnh tuyệt đẹp từ trên cao, và cả vì tiếng nước suối róc rách hư thực đâu đây, vì tiếng chim hót ríu ran bốn bề khắp sườn núi.

Phải rõ lâu, tôi mới bừng tỉnh để cùng ông Phiên  xuống núi.

ÐỖ NHẬT MINH
Theo: