Miền vàng đen

Thứ Tư, 08/12/2010, 00:53:00
 Font Size:     |        Print

Dẫu không là vô tận, nhưng cho đến nay chưa thể điều tra hết toàn bộ trữ lượng của các bể than nằm sâu dưới lòng đất. Có số liệu ước rằng vùng Quảng Ninh có hơn 5 tỷ tấn than và còn một bể than lớn nữa dưới lòng đất thuộc các tỉnh đồng bằng sông Hồng với trữ lượng gấp nhiều lần. Trong khi đó, Tổ chức Năng lượng quốc tế (IEA) dự báo, trong vài thế kỷ tới, dù công nghiệp khai thác dầu khí có phát triển đến mấy thì than đá vẫn là nguồn năng lượng số một. Bởi hơn 40% sản lượng điện trên thế giới được sản xuất từ than đá, trong khi 20% từ khí đốt và 16% từ năng lượng nguyên tử.

Có nghĩa, than đá vẫn là sự lựa chọn tất yếu của loài người trong tương lai, và cũng có nghĩa vùng than đông bắc của Việt Nam càng khẳng định giá trị 'kho vàng' trong sự nghiệp phát triển đất nước. Bởi không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu nhiên liệu cho các ngành công nghiệp quốc nội quan trọng mà 'vàng đen' còn là một trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế nước ta tới hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Vì vậy, trong tương lai, khai thác than vẫn là một mũi nhọn chiến lược của ngành công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2020, khi đất nước có nền công nghiệp hiện đại, mỗi năm đạt sản lượng khai thác  55-60 triệu tấn.

Tôi biết đến vùng than Hòn Gai từ hồi còn đi học qua tiểu thuyết Vùng mỏ của nhà văn Võ Huy Tâm. Nay, dù có cập nhật được một số thông tin nhưng vừa đặt chân đến Hà Lầm là tôi nhận ra ngay mức độ lạc hậu trong kiến thức của mình. Bức tranh vùng mỏ xác xơ bởi kiểu khai thác vơ vét, chụp giật của bọn chủ Tây cũng như cảnh phu phen thống khổ của đời thợ hơn nửa thế kỷ trước bây giờ chỉ còn trong ký ức xa xôi.

Theo cách của cánh thợ, chúng tôi nai nịt gọn gàng bộ bảo hộ lao động rồi xuống hầm lò bằng hệ thống mô-nô ray. Trước đây thợ mỏ xuống hầm phải đi bộ hoặc xe goòng. Vất vả nhất là sau mỗi ca làm việc, từ độ sâu âm 150 mét, thợ lò phải leo dốc cao 23 độ, dài hơn nửa cây số, dù đã có cáp tời hỗ trợ nhưng lên đến miệng hầm là muốn đứt hơi. Bây giờ với hệ thống mô-nô ray, thợ mỏ sẽ được chở đến các 'ga' chính, sau đó mới tỏa đi các nhánh lò để vào khai thác. Riêng sự 'hiện đại hóa' chiếc đèn mỏ cũng đã giảm cho người thợ  hơn 1,5kg. Bây giờ chiếc đèn chỉ 200gram, gắn trên mũ nhẹ tênh, lại có độ sáng cao thấp tùy ý, có thể sử dụng liên tục 12 tiếng đồng hồ. Còn chiếc bình dưỡng khí tự cứu cũng nhỏ gọn hơn cái bi-đông đựng nước. Khi gặp sự cố, chỉ cần mở nắp là có khí ô-xy sạch để thở trong hơn một giờ. Nhưng đáng kể nhất phải là cuộc cách mạng về thiết bị chống lò. Trước đây lò được chống bằng cột gỗ, độ an toàn thấp mà sức thợ đổ vào việc vận chuyển gỗ cũng khá nhiều. Nay hầm lò được chống bằng cột thủy lực hoặc giá khung di động, rất an toàn. Người ta tính trước đây để có một nghìn tấn than phải dùng đến 50m3 gỗ, nay có nơi chỉ cần 3m3. Ở trong các đường hầm, ngoài hệ thống điện chiếu sáng, điện thoại, hiện đã có thiết bị kiểm soát chỉ số khí mê-tan, nối thẳng lên trung tâm điều hành trên mặt đất. Khi độ khí vượt ngưỡng, hệ thống sẽ tự động phát tín hiệu cảnh báo.

Ðã được huấn luyện cấp tốc một số kỹ năng vận động trong đường hầm, nhưng khi xuống lò tôi mới hiểu kỷ luật lao động có ý nghĩa sống còn như thế nào với người thợ mỏ. Cách vận động trong hầm lò của  thợ mỏ chẳng khác nào những người lính hành quân qua bãi mìn hay luồn vào đồn địch. Người sau bao giờ cũng đặt chân vào đúng vết ủng của người đi trước. Nếu không có thể bị thụt hố nước, kẹt vào thanh ray hoặc bị băng tải than cuốn. Bên trên, bất cẩn va đầu vào thanh đỡ chống lò là hãy còn nhẹ, nguy nhất là quệt phải đường tro-lay tải điện cao thế để trần chỉ cách đỉnh đầu non tầm tay với.

Chúng tôi dừng lại để chờ nổ mìn tại công trường khai thác 6 ở độ sâu âm 36 mét. Dù tiếng mìn trong lòng đất nghe không lớn, nhưng cũng gây cảm giác tưng tức trong ngực. Than lả tả từ trần lò rơi xuống đầu, xuống cổ làm tôi nhớ lại cảnh hồi chiến tranh ngồi hầm chữ A để tránh bom tọa độ của Mỹ. Rồi tiếng còi báo yên, máng cào than bắt đầu chạy. Tôi hút mắt theo dòng suối than lấp lánh tuôn ra từ trong lòng đất, mải miết trôi về hướng lò chính rồi theo băng tải 'chảy' ngược lên mặt đất mà đổ về hệ thống sàng tuyển. Dưới khu hầm lò của mỏ than Hà Lầm này người ta lắp đặt hệ thống băng tải than tổng cộng dài hơn bảy cây số. Có những con suối 'chảy' ngược dốc đến 23 độ từ cốt âm 150 mét lên cốt dương 30 mét, dài 650 mét. Bám vào một sợi cáp to bằng ngón tay, chúng tôi men theo bờ con suối than còn nóng hôi hổi ấy mà ngược lên phía thượng nguồn. Từ xa đã thấy loang loáng ánh đèn mỏ và rộn rã tiếng cuốc, tiếng người. Khái niệm lò chợ có lẽ cũng bởi vì thế. Trên một đoạn hầm lò dã chiến dài chừng năm trăm mét, chỉ có thể đi khom, mấy chục thợ dàn trận tất bật, nhộn nhịp như một buổi 'chợ đông'. Người cuốc than xuống máng, người điều chỉnh khung giá đỡ di động hoặc cột chống thủy lực. Không khí hầm hập hơi nóng và đặc quánh bụi than. Sức công phá của những quả mìn đã khiến những tảng than vỡ vụn, rời khỏi vỉa. Có đoạn than đùn ra chật cả lòng hầm, phải nhoài người trườn lên những đống than nóng hổi mới qua được. Vì không đeo khẩu trang mà  tôi bị sặc bụi than, mồ hôi túa ra bết cả lưng áo. Ở đây, thợ mỏ ai nấy đều đeo khẩu trang dày cộp, thế mà bụi than vẫn thẩm thấu vào tận phổi. Bệnh bụi phổi xưa nay luôn là vấn nạn của các vùng mỏ trên thế giới. Ở ta năm nào cũng có người phải đi rửa phổi. Riêng thợ mỏ Hà Lầm trong vòng bốn năm trở lại đây đã có hơn một trăm người phải đi rửa phổi. Mọi người kể rằng, chỉ cần nhìn vào bình chứa dịch từ phổi chảy ra của thợ mỏ là biết ngay anh ta là thợ đào lò đá hay lò than. Nếu là thợ khai thác thì nhất định dịch đen như than, còn thợ đào lò đá thì bình dịch đục như nước vo gạo.

 Ðược tận mắt xem cách mà người thợ đào ra hòn than dưới hầm sâu này,  tôi mới hiểu đầy đủ hai chữ 'lầm than', và nhận ra rằng mai này, dù công nghệ hầm lò có tiên tiến đến mấy thì làm than vẫn là nghề lầm than. Và dù người thợ mỏ có được thiết bị hỗ trợ tối tân bao nhiêu thì vẫn luôn có những hiểm nguy rình rập quanh họ. Nhiều vụ tai nạn mỏ thương tâm từng xảy ra với đủ kiểu: bục nước, sập hầm, đá đè, điện giật, mìn nổ...

Lao lực và nguy hiểm đến thế nên ví thợ mỏ vào ca như bộ đội công đồn, quả không sai.

Hôm chúng tôi về Quảng Ninh, nghe người làng mỏ bàn tán chuyện nhiều thợ lò xin nghỉ việc mà thấy lạ. Cách đây chưa đến mươi năm, để được vào làm thợ mỏ là rất khó và mức lương thợ lò mỗi tháng một 'cây' vàng là ao ước của bao người. Thế mà nay, ở nhiều mỏ than, tuyển thợ đã khó, giữ chân thợ lại còn khó hơn. Ngay tại Trường cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm thuộc Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tuyển sinh vào các nghề lái xe, điện tử, cơ khí... thì rất dễ, nhưng với thợ lò, dù đã bao trọn gói ăn ở, đào tạo và bố trí việc làm, thì vẫn rất thiếu. Trong khi đó, ở các đơn vị sản xuất, số liệu thống kê cho thấy năm 2008 có 2.700 người, năm 2009 là 2.650 và chín tháng đầu năm 2010 đã có 1.500 thợ lò bỏ việc. Thậm chí tình trạng này khiến một số đơn vị có nguy cơ vỡ kế hoạch vì thiếu nhân lực.

Ðã có không ít cuộc mổ xẻ lớn nhỏ về những nguyên nhân cũng như kiếm tìm đối pháp. Rất nhiều vấn đề cần phải được giải quyết, nhất là bức xúc về nhu cầu cải thiện thu nhập và điều kiện làm việc. Có những vấn đề mang tính xã hội lớn, vượt ra ngoài hàng rào của doanh nghiệp, cần phải có bàn tay của Nhà nước và các ngành, các cấp liên quan. Xin lấy một thí dụ: Qua khảo sát, cho thấy nhóm thợ lò bỏ nghề tập trung vào độ tuổi dưới 30, chưa có gia đình. Người ở xa thì hoài nghi: Chẳng nhẽ  trai trẻ vùng than lại ngại khổ hay 'nhát' tai nạn hơn nhóm thợ lớn tuổi? Về đây mới hay rằng, điều họ 'sợ' nhất chính là... ế vợ. Trong cộng đồng người làng thợ mỏ, do đặc thù công việc mà tỷ lệ nữ rất thấp, chủ yếu là nam và trẻ tuổi. Có đơn vị gần 1.500 cán bộ, công nhân mà nữ chỉ có hơn 120 người, hầu hết đã có chồng. Còn lại cả nghìn trai trẻ chưa có vợ. Nếu làm một phép cộng sơ sơ thì ở vùng than vẫn còn hàng vạn thợ mỏ chưa có vợ. Những đơn vị càng ở xa trung tâm thì nguy cơ thợ lò ế vợ càng cao.

Quả là những vấn đề cực kỳ nan giải. Dẫu thế, ở dưới lò sâu này, các chàng trai trẻ đã cho chúng tôi thấy cái khí chất của thợ lò như nguồn nhiệt năng tiềm tàng trong mỗi hòn than kíp lê khi dấm, sẵn sàng bốc lên thành ngọn lửa và phát ra độ nóng rất cao. Vậy nên với người vùng mỏ, không một hiểm nguy hay gian khổ nào có thể làm cho họ chùn bước. Tôi đã có dịp cảm nhận được cái khí chất ấy ở những người thợ lò Hà Lầm, khi họ đối mặt với nguy cơ thiếu mỏ.

Chuyện là, sau hơn một trăm năm mở cửa kho 'vàng đen' vùng đông bắc, đến nay, các mỏ than lộ thiên đã bắt đầu cạn kiệt. Tại Hà Lầm, sứ mệnh lịch sử của mỏ than lộ thiên sẽ chấm dứt chỉ trong vài năm tới, trong khi than hầm lò ở độ sâu 50 mét được khai thác từ những năm 80 của thế kỷ trước cũng phát tín hiệu báo sắp hết nguồn. Người thợ mỏ chỉ có một lựa chọn duy nhất, đó là đột phá xuống sâu hơn trong lòng đất. Hơn nửa năm quyết liệt, thợ mỏ Hà Lầm đã đào được một hệ thống lò sâu đến 420 mét, lập kỷ lục về độ sâu của các hầm lò Việt Nam. Kỳ tích chưa từng có ở vùng than này đồng nghĩa với việc một khai trường mới sẽ được mở ra, có trữ lượng than khoảng 120 triệu tấn, đủ cho bốn nghìn năm trăm thợ mỏ Hà Lầm khai thác trong vòng 45 năm.

Ở dưới lòng đất sâu này, tôi có cảm giác những người thợ mỏ coi mọi khó khăn chỉ như là chuyện đào lò gặp phải khối đá cứng vậy. Sẵn sàng đối mặt, sẵn sàng vượt qua. Vậy nên, dù rất quan tâm đến thu nhập, nhưng câu chuyện rôm rả và hứng thú nhất của cánh thợ lò bên máng cào than cuối cùng rồi cũng quay về chuyện nghề. Từ chuyện dốc sức chống chọi với lũ dữ để bảo vệ hầm lò hồi năm 2008, đến chuyện đặt chân xuống đáy lò sâu âm 420 mét cuối  năm 2009, rồi chuyện sắp có ứng dụng công nghệ mới, v.v... Bao nhiêu là từ ngữ, khái niệm chuyên môn nghề mỏ mà cánh thợ nói với nhau, người ngoài không thể hiểu hết. Nhưng nhìn các anh, tôi biết đó toàn là những kỷ niệm buồn vui để đời của người thợ, giống như câu chuyện về những vết sẹo trên ngực của bao người lính năm xưa trở về từ trận mạc. Ðó chính là thứ hành trang cuộc đời được di truyền qua nhiều thế hệ thợ mỏ, thành một bảo vật quý giá hơn cả tiền bạc, thậm chí cả bản thân mình. Thế nên dù không hết lời 'tố khổ' 17 năm đào lò vất vả, nhưng 'vua đào lò' Nguyễn Trọng Thái ở công trường kiến thiết cơ bản số 1 vẫn không giấu được vẻ tự hào khi nhớ lại giây phút cùng đồng đội nhận trọng trách xuống đào mét lò cuối cùng của hệ thống hầm lò sâu nhất Việt Nam ở mức âm 300 mét so với mặt biển. Ngay buổi 'chợ đông' trong lò chợ công trường số 6, giữa ngồn ngộn than và dày đặc cột chống thủy lực, chàng thợ trẻ 26 tuổi Ðỗ Văn Vương vui vẻ kể về giấc mơ thật giản dị của mình: 'Em  vào nghề đã hơn một năm, lương mỗi tháng hơn 10 triệu đồng. Làm thợ lò vất vả nhưng dần cũng quen và thấy vui. Vui nhất là những tháng vượt nhiều ngày công và nhận được nhiều tiền. Ước mơ lớn của em là kiếm được nhiều tiền để giúp gia đình và lấy vợ, dựng nhà'.

Nghe tâm tư thật hồn nhiên và ngắm những nụ cười lấm lem than bụi ngay dưới lò sâu, tôi tin rằng nguồn năng lượng trầm tích từ mấy trăm triệu năm trước đã hun đúc nên khí chất năng động và quả cảm của con người đông bắc. Chẳng thế mà từ nghìn xưa, qua bao phen binh đao, miền đất này vẫn luôn vững vàng vừa là phên giậu, vừa là cửa ngõ của nước nhà.

Ký của ĐINH NHƯ HOAN
Theo: