Ngày đông có nắng (Tiếp theo và hết)

Thứ Ba, 06/12/2016, 04:01:56
 Font Size:     |        Print
 

Ông Nhã ốm mấy hôm nay. Cảm gió xì xằng thôi nhưng do ông nhịn miệng nên thành ra mãi không dậy được. Người ta điều ông Nhữ thay mấy ngày. Thế mà ông ấy kêu trời chửi cả ông Nhã: “Người đâu mà ngu không biết mở miệng kêu. Việc bẩn thỉu nặng nhọc thế này kham một mình sao nổi; lại còn làm khổ lây ông nữa chứ...”. Rồi ông sai phái cả thằng Triều... Nó lút cút làm theo. Bà nó hớn hở ra mặt: “Mấy hôm nay bác cháu nó câu sao mà được lắm thế. Tôi cắp rổ ra chợ vẹo cả xương cô ạ”.

Tôi vừa đi học về, thấy bên nhà ông Nhã ầm ầm tiếng khóc, tiếng quát và tiếng van nài. Tôi phi sang thì gặp mẹ về, mặt đỏ bừng, mắt còn ngấn nước: “Khổ thân, nó còn bé, biết gì. Tội là tội người lớn. Ông ấy đánh nó vãi cả máu. Thế mà cấm kêu. Sao khổ thế này hả trời!...”. Tiếng khóc là của bà thằng Triều, tiếng quát khan là của ông Nhã. Thằng Triều ngồi xó nhà, băng trắng quấn vòng bắp chân. Ông Nhã gục mặt bên bàn. Những ngón tay to bè, bợt bạt, run rẩy. Rồi bà nó đi vào, thắp hương trên bàn thờ vừa khấn vừa xuỵt xoạt khóc. Bên kia nhà, tiếng ông Nhữ đổng rảng: “Nó đánh con nó thì kệ cha nó. Việc gì mà nó xóc hông người khác. Trời phật nào ở đây? Sao nó không bảo người ta đóng tổ nó cái phòng “kế hoạch” kia lại. Ngày nào mà chúng nó chả giết người... Mang ra đồng thì giun ăn, đổ xuống hồ thì cá ăn. Lên mặt à, dạy đời à. Ông thì ông cứ cho sặc gạch chứ chả bỡn...”. Ông Nhã lên giường, đắp chăn giữa tháng năm, mặt quay vào vách, vai rung từng đợt.

Chập tối bế cái Vân lê la ngoài hè. Mặt bà thằng Triều rầu rầu. Tôi bảo ở phố người ta đồn thằng Triều bị con ma hồ nó ám, suốt ngày bỏ học, cứ lang thang vơ vẩn thả câu. Cá chẳng thấy đâu, kéo lên chỉ thấy mấy mẩu trẻ con... hãi quá - bà phải cúng trừ tà ma cho nó... Chuyện đồn kinh quá bà nhỉ. Bà nghe, mắt nhắm lơ mơ không nói không rằng. Ông Nhữ đi qua kháy nhẹ: “Bà bế giúp con này tí. Mẹ nó mải mê phấn đấu giao nó cai quản cả nhà. Xem sườn nó đã vẹo thâm chưa?”. Bà thằng Triều lầm rầm câu gì nghe không rõ. Tôi lừ lừ nhìn ông Nhữ căm thù. Rõ ràng là vì lão mà thằng Triều bị đòn đau. Vậy mà lão cứ nhơn nhơn như không. Tôi hỏi thằng Triều, bà lão lắc đầu, mắt hấp háy ướt nhoèn, đầy dử. Tôi leo lên giường, giở cuốn “Truyện cổ An-đéc-xen”, đọc đến đoạn cô bé bán diêm chết cóng, ứa nước mắt khóc rồi ngủ lúc nào không biết.

***

Thằng Triều khều tôi ra cửa: “Mày có thích theo bố tao ra đồng chơi không?”. Tôi nhảy vội từ trên giường xuống, chân đất tót theo nó. Thằng em réo: “Em không trông nhà đâu”. Tôi dừng lại, giơ ngón tay lên dọa: “Mày ở yên đấy, im ngay kẻo ông Nhữ nghe thấy cho cả lũ xuống hồ bây giờ! Tí nữa về tao cho mấy con châu chấu”. Nó ngồi im re, miệng chỉ hơi nhệu nhạo.

Ông Nhã xách một cái thùng tôn, một chiếc thuổng bé. Tôi và thằng Triều chạy gằn theo sau. “Thế mày không đi câu nữa à?”. Tôi không đừng được nói nhỏ “Bố tớ cấm rồi - không được theo ông Nhữ”. “Thế thì nhà cậu ăn bằng gì?”. Tôi định hỏi lại nó nhưng đã ra đến đê rặng Nhãn rồi đến cánh đồng làng Gòi. Tha hồ là rộng, là lúa là cỏ, là hoa dại và chuồn chuồn, bươm bướm và châu chấu... Tôi chẳng còn tâm trí nào để nghĩ đến điều vừa hỏi nữa mà nhào xuống cùng thằng Triều thi nhau đào cỏ ấu. Những củ cỏ ấu đen chắc bé như nút áo, có râu lua tua. Mang ra bờ mương rửa sạch, bỏ vào miệng nhai đến gáu. Mùi hăng hăng thơm, vị ngăm ngăm thật dễ chịu. Ông Nhã lúi húi ở góc xa, bên những cái mả lấp xấp, lô nhô. Ông đào một chiếc hố nhỏ, bê cái bọc từ trong thùng tôn đặt xuống, lấp đất rồi thắp lên ba nén hương. Ông cúi đầu. Tôi thấy tóc ông lơ phơ, bạc trắng. Ông gọi thằng Triều ra vái và nói với nó điều gì đó. Tôi cũng ra theo, không thấy sợ, thấy mình như lớn hẳn. Tôi lắng nghe ông khấn: “Nam mô a di đà phật, con nam mô a di đà phật, xin phật xá tội cho lũ người trần mắt thịt chúng con. Chúng con chính là những kẻ ác...”. Có một con bướm cánh xanh óng ánh như kim tuyến bay qua. Tôi đuổi theo. Cỏ mềm dưới chân, lá lúa sắc quệt vào bắp chân ram ráp. Con bướm thì cứ nhởn nhơ bay đằng trước, lúc lên cao, lúc hạ thấp trêu ngươi.

Quay lại tôi thấy ông Nhã và thằng Triều đào được một đống rau má, cả dây cả rễ loằng ngoằng. Thằng Triều ngượng nghịu: “Rau má ghế cơm ngon ra phết lại lành bố nhỉ”. Bố nó như nói một mình: “Ừ - bới đất lật cỏ rồi cũng có cái ăn. Đất không bạc ác như người đâu”.

***

Gần Tết, thằng Triều ăn mặc tươm tất khác hẳn mọi khi. Áo trắng bỏ trong quần phăng xanh sỹ lâm. Nó bẽn lẽn bảo mẹ tôi: “Sáng mai cháu về quê với bố, có khi chẳng ra ở đây nữa. Bà cháu nhắn là vụ này khá hơn vụ chiêm vừa rồi...”. Ông Nhữ ngồi bên bàn uống nước nói xen vào: “Đừng có dở hơi như thằng bố mày nghe chưa. Khổ cả đời đấy con ạ. Mày ở đây có tao giúp rập cho thì mới khá lên được”. Mẹ tôi khẽ cau mày. Tôi kéo nó vào trong buồng chìa cho nó cuốn Truyện cổ An-đéc-xen yêu quý của mình. Giữa trang sách có ép bông hồng cuối cùng của đợt hoa vừa rồi thoảng thơm: “Tớ cho cậu mang về quê đọc đỡ buồn!”. Nó tần ngần nhìn tôi, tay khẽ rụt lại, thoáng đỏ mặt rồi bỗng lấy hết can đảm bảo: “Cậu cứ để mà xem. Tớ biết cậu quý cuốn sách này lắm. Cậu... cậu có thể cho tớ hai phong lương khô được không? Mấy chị tớ có lần nghe tớ kể, thèm chảy dãi... Họ chưa bao giờ được nếm cả...”. Tôi quay vội vào góc chạn ức cay cả mũi. Hai phong lương khô đánh đổi cả cuốn sách quý giá nhường ấy! Tôi lục nốt mấy thanh lương khô, đặt tất cả vào tay nó, cố ghìm cho khỏi bật khóc. Tôi được giáo dục rằng của cải là vật ngoài thân, chẳng mang ý nghĩa gì, nhất là miếng ăn. Vẻ đẹp nằm ở tâm hồn, trí tuệ của con người. Tôi thấy hờn tủi và thấy khinh thằng Triều. Tôi cố không nhớ gì đến nó trong những ngày sau đó.

Tuần sau thì tôi thấy buồn vắng. Không có ai sang xin tôi nước cà, không có đứa nào vét hộ tôi những hạt cơm cháy đến sạch nhẵn nồi gang, khỏi phải rửa. Không có người chẻ củi, nhóm hộ tôi cái bếp mùn cưa bị ẩm...
Sẽ chẳng có ai để hồi hộp khi mùa vải thiều về. Tôi lang thang một mình ra bể nước. Những chiếc đài mít xanh dầy ôm những trái mít đực xinh xinh trái mùa sắp rụng. Những nụ hồng vô tư nở rồi sẽ tàn. Tôi chạy ra giữa đường. Trời mùa đông cao, xanh ngắt. Gió bấc thổi quấn quanh người tôi, bốc lên giữa dải nắng lấp lánh vàng bao nhiêu là hạt bụi li ti, li ti... May mà có nắng vàng. Nắng mùa đông thường vàng ấm và thật rực rỡ.

***

Tôi đã bốn mươi tuổi, khá thành đạt trong cuộc đời. Tôi đã phải học hỏi và trải nghiệm nhiều điều. Tôi cũng đã được nghe người ta nói đi nói lại mãi rằng “nghèo đi đôi với hèn” và chỉ có những kẻ bất tài vô dụng mới chịu nghèo hèn. Tôi cũng cố gắng gỏi và ghê gớm lên nhiều. Sự mau nước mắt ngày thơ dại đã hết. Chỉ có lần về quê chồng, ngồi trên chuyến tàu Bắc Nam, tôi háo hức nhìn những cánh đồng, xóm làng trượt qua cửa sổ. Tôi nhìn thấy những túp nhà lụp xụp, liêu xiêu, những đứa trẻ cởi truồng, bụng ỏng đầy giun ngước nhìn những toa tàu chạy qua bằng ánh mắt thèm khát. Tôi lúc ấy chợt thấy mình mềm hết cả lòng và ứa nước mắt. Phút mềm yếu qua đi, tôi xấu hổ lén đưa tay chùi nước mắt và hoảng hốt xem có ai nhìn thấy.

Tôi vừa mới xây xong căn nhà bốn tầng có bề ngang bảy mét trên con đường vừa mở rộng vì nằm bên dự án. Sân nhà tôi có trồng một cây mít ngay bên cầu thang ngoài cuốn lên tầng hai. Người mang cây đến khoe rằng đã dành cho tôi cây đang bói lứa quả đầu. Sân nhà tôi lát gạch lá dừa đỏ au, góc sân cũng có một khóm hồng bạch đầy gai. Tôi bao giờ cũng thích hồng có gai. Hàng rào sắt giả gỗ sơn trắng đan chéo cánh sẻ. Hôm nay tôi vừa mời khách đến khánh thành ngôi nhà của mình. Toàn là những người quan trọng và sang trọng. Tôi mặc áo dài màu xanh thắm đi ra, đi vào. Rõ ra bà chủ nhà hiếu khách. Bạn tôi khen nịnh: “Nhà của địa chủ thời hiện đại có khác”. Tôi cười khanh khách: “Biết đâu cụ kỵ xưa là địa chủ ở quê - cái máu địa chủ ấy vẫn còn nguyên đấy”. Mọi người cười tán thưởng. Bây giờ ai cũng thích là địa chủ, có nhà có đất, vườn cả ao liền.

Giờ tiệc đã tàn, khách đã về, người giúp việc đang dồn tất cả thức ăn thừa mang cho những người ở quê ra thuê nhà đi làm như chị. Tôi bước những bậc cầu thang xuống sân, tiện tay vặt một trái mít non đưa lên miệng. Vị chát xít khiến tôi nhăn mặt. Chớp sáng ký ức giật tôi lại. Tôi nhớ bể nước, cái sân có cây mít, bụi hồng gai và bỗng hiểu vì sao mình làm ngôi nhà này. Bụi thời gian đã phủ lên một lớp quá dày... Thì ra mấy chục năm qua, sâu thẳm trong tôi vẫn còn lưu giữ cái ngày mùa đông có nắng ấy, còn nguyên nỗi tủi hờn vì giá trị mà mình coi trọng lại bị chối bỏ. Hồi ấy non nớt quá tôi đâu có hiểu gì. Bánh mỳ phải có trước rồi mới đến hoa hồng. Triều ơi - bây giờ cậu ở đâu?!

Trong nhà, từ ti-vi, lời thoại trong bộ phim truyền hình dã sử vọng ra. “Dạ bẩm - dân coi miếng ăn hơn trời” - Tiếng quan Tể tướng đương triều. Tiếng nhà vua cười khinh bỉ: “Ta khai sáng mà họ vẫn không hiểu ư - ngu dốt quá!”.

Tôi nhăn mặt nuốt trái mít cái ực. Chậm rãi, tôi bước từng bậc cầu thang quay lên nhà.

Truyện ngắn của THÙY DƯƠNG