Phong tục, lễ nghi những ngày Tết

Thứ Tư, 29/01/2020, 02:09:39

Chuẩn bị và đón Tết Nguyên đán là những công việc trọng đại trong cả năm của người Việt Nam từ xưa đến nay. Tuy nhiên, hiểu cho đúng và không nên lạm dụng những phong tục, lễ nghi này là điều cần bàn trong những ngày Tết Canh Tý 2020.

Dân ta thường nói “ba ngày Tết”, tức các ngày mồng 1, mồng 2 và mồng 3 tháng Giêng. Thật ra, đó là những ngày mọi người gần như được hoàn toàn nghỉ ngơi, không “dính dáng” đến các công việc đồng áng, làm nghề hoặc buôn bán. Trên thực tế, có cả một không khí Tết trước và sau các ngày nêu trên, vì có được ba ngày nghỉ đó, không kể cả một năm lao động sản xuất vất vả, mỗi gia đình còn phải lo chuẩn bị các món ăn, thú vui, thú chơi, với nhiều phần việc, đòi hỏi sự chung tay, nỗ lực của các thành viên. Để có được ba ngày Tết, cần có một “hành trình chuẩn bị Tết”.

“Hành trình chuẩn bị Tết” bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp. Trước đây, ở nông thôn (một phần đô thị) đun nấu bằng bếp rơm, rạ, củi. Mỗi nồi được đặt trên ba ông vua bếp (ông đầu rau) nặn bằng đất sét từ ngày 10 tháng Chạp trở đi. Các gia đình thay ông vua bếp cũ bằng các vua bếp mới nặn, rồi làm lễ cúng thần bếp - vị thần cai quản các công việc bếp núc trong nhà. Đây cũng là ngày tôn vinh lửa - nguồn nhiên liệu bất diệt của sự sống và tôn vinh phụ nữ - những người có công phát hiện ra lửa (vì vậy, phụ nữ từ xa xưa đã đảm nhiệm “thiên chức” lo việc bếp núc, mang sứ mệnh “giữ lửa” cho gia đình).

Tục cúng thần bếp có từ lâu đời, cần nhận thức rõ để có một hành xử đúng. Về tên gọi, không nên gọi là “Tết ông Công, ông Táo”, mà gọi là “Tết 23 tháng Chạp” hay “Tết cúng thần Bếp”. Trong cách hành xử, mọi người, mọi nhà nên bỏ tục đốt đồ mã “ông Công, ông Táo”, vì lãng phí rất lớn, ô nhiễm môi trường dẫn đến nguy cơ cháy, nổ rất cao. Tục thả cá ra sông hồ cũng cần chấn chỉnh vì cá chép vàng không thể sống được trong phần lớn các ao hồ, sông ở các đô thị, ven đô, thậm chí ở các làng quê xa hơn đang bị ô nhiễm do cá chết kèm theo túi ni-lông.

Hành trình chuẩn bị Tết là những ngày vui nhất, không khí Tết sôi nổi nhất từ 23 tháng Chạp đến ngày cuối cùng của năm, dọn dẹp, trang hoàng lại nhà cửa, đi sắm các đồ dùng, nguyên vật liệu để chế biến các món ăn ngày Tết, nhất là bánh chưng để dâng lên tổ tiên. Tất cả đều khẩn trương, mọi việc phải hoàn tất trước phút Giao thừa để đón chào năm mới.

Các phong tục, lễ nghi trong ngày Tết ở nước ta luôn mang đậm dấu ấn nông nghiệp. Bên cạnh việc đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, người dân đều có những hoạt động tín ngưỡng để mong mưa thuận gió hòa, một trong những lễ thức nổi bật nhất, đó là lễ Xuống đồng với nhiều tên gọi khác nhau, như: (người Việt: Hạ điền, người Mường: Khoóng tôồng hay Khai hạ, người Tày - Nùng: Lồng tồng...). Mở đầu lễ là lễ tế Thần nông và Thành hoàng làng, sau đó là lễ thức cấy lúa tượng trưng trên một đám ruộng “thiêng” gần đình hoặc thửa ruộng cho lúa tốt trong vụ gặt gần nhất. Ở nhiều địa phương, như: khu Hà Nam, Yên Hưng (tỉnh Quảng Ninh), lễ thức nông nghiệp đầu năm gắn liền với việc tưởng nhớ các Tiên công - những người có công khai phá đất đai, lập nên các làng xóm ở vùng đất thấp ven biển. Lễ thức lớn nhất tập trung ở miếu thờ các vị Tiên công tại làng Cẩm La, với sự tham gia chính của dân bốn làng: Cẩm La, Phong Cốc, Trung Bản và Yên Đông. Tối mồng 6 tháng Giêng, chức sắc của bốn làng làm lễ cáo yết tại miếu, do bốn cụ thượng thọ song toàn, khỏe mạnh, đủ con, cháu trai gái, gia đình hòa thuận, làm ăn khá giả thực hiện. Sáng mồng 7, các gia đình có các cụ ông thọ chẵn 70, 80, 90, 100 tuổi đội lễ và rước các cụ lên miếu Tiên công, đến 12 giờ trưa, tổ chức tế lễ. Tế xong, làm lễ động thổ. Bốn cụ được chọn từ hôm trước bê những hòn đất to, do con cháu chuẩn bị sẵn đặt trước hương án Tiên công, đắp một đê tượng trưng. Đắp xong, bốn cụ lại đánh vật tượng trưng, rồi được con cháu rước về. Dân làng đi theo về chúc thọ các cụ tuổi thọ chẵn năm đó. Sau lễ thức này, các gia đình mới được cày cấy, gieo trồng trên ruộng vườn của nhà mình.

Lễ Xuống đồng của các cộng đồng cư dân được nâng lên thành lễ nghi mang tính nhà nước. Đó là lễ Tịch điền. Thường vào đầu năm, vua thay mặt toàn dân làm lễ tế Thần nông, sau đó cày một vài đường cày đầu tiên tại một khu ruộng, mục đích để tôn vinh nghề nông và cổ động toàn dân lao động sản xuất. Vị vua đầu tiên làm lễ thức cày Tịch điền là Lê Hoàn, vào đầu năm Đinh Hợi (987). Lễ thức được tiến hành ở khu ruộng dưới chân núi Đọi (nay thuộc thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam). Các vua đời sau đều duy trì lễ thức này. Sử cũ ghi lại, vào tháng Hai năm Mậu Dần (1038), Vua Lý Thái Tông ngự ra Bố Hải (nay thuộc tỉnh Thái Bình) cày tịch điền, sai quan dọn cỏ, đắp đàn. Tế Thần nông xong, Vua đích thân cầm cày. Các quan can ngăn: "Đó là việc của nông phu, bệ hạ không phải làm", Vua đáp: "Trẫm không tự cày thì lấy gì mà làm xôi để cúng, lấy gì để làm gương thiên hạ?", rồi cày ba đường mới thôi...

Nêu một vài nét như vậy về các phong tục, lễ nghi của người xưa trong dịp Tết để thấy rằng ông cha ta rất trọng nông và khuyến khích, đề cao lao động trong những ngày đầu năm, hàm ý nhắc nhở đón Tết, vui Xuân nhưng không được mải vui, lơ là với ruộng đồng và câu chuyện ấy cho đến ngày nay vẫn còn mang tính thời sự.

PGS, TS BÙI XUÂN ĐÍNH

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam