Văn hóa cuộc sống

Thương gia & nghệ thuật

Thứ Ba, 24/05/2016, 10:05:54
 Font Size:     |        Print
 

Minh họa | ĐẶNG TIẾN

Lịch sử phong kiến của người Việt kéo dài cả nghìn năm, và đó là một đoạn thời gian rất đỗi tự hào. Những vương triều hiển hách như Lý, như Trần, như Lê... với những chiến công giữ nước vĩ đại cùng với một nghệ thuật dựng nước minh triết uyển chuyển, đã lừng lững làm nên một dân tộc có số người không đông đất không rộng, nhưng lẫm liệt xứng danh Đại Việt. Để có được một khí phách lồng lộng tồn tại như thế, phần lớn là nhờ “hào kiệt đời nào cũng có”. (Bình Ngô đại cáo). Ở vào cái thời đoạn đáng nhớ đó, luôn trùng trùng điệp điệp hiện diện các nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hóa lỗi lạc. Vậy mà không hiểu sao, trong một phong khí thăng hoa đỉnh cao, người Việt hiếm hoi các nhà kinh tế lớn. Có thể nói, các thương gia Việt thành danh hầu như đã vắng mặt. Kể cả cho đến ngày nay, trên muôn vàn các con phố ở các đô thị hay các trung tâm kinh tế đang hoành tráng phát triển, gần như tuyệt tích những biển phố vinh danh tên tuổi của các thương nhân.

Để làm rõ sự bất cập này, thì đành phải miễn cưỡng tạm so sánh thương gia với văn chương nghệ thuật. Theo vài nguồn sử liệu cổ kính, thì nghề văn và nghề buôn đều đã có từ lâu đời. “Văn” hình như dùng để nuôi dưỡng thăng hoa phần hồn. “Buôn” hình như dùng để giữ gìn thăng bằng phần xác. Cái nào cũng là hay, cái nào cũng là quý. Ở những kiểu gọi mang vẻ sang trọng thì những người hành nghề văn còn được kêu là văn hào hay văn sĩ. Đại loại như vậy, khi trân trọng nhà buôn, người ta kêu là doanh nhân hay thương gia. Tuy nhà văn và nhà buôn không phải là hai khái niệm đối kháng nhưng không hiểu sao chúng ít khi được xếp liền nhau. Ở châu Á, lúc chế độ phong kiến đang thịnh vượng, có rất đông những người tử tế mang thói quen trọng nam khinh nữ, trọng chữ khinh tiền thì nghề văn và nghề buôn bị phân biệt lắm. Đám nhà văn tuy nghèo rớt mồng tơi nhưng sống cao đạo trong trắng, tuyệt chẳng có ai vì tiền bán mình. Ở sâu xa trong từng văn nhân bụng đầy chữ, họ thường coi đám thương nhân thiếu chữ là bọn trọc phú hợm hĩnh. Trong “tóp bốn” thang bậc xã hội Sĩ, Nông, Công, Thương thì nhà văn thuộc nhóm “sĩ”, xếp đầu. Còn nhà buôn thuộc nhóm “thương”, xếp bét. Có lẽ do cái thành kiến lạc hậu này (cùng nhiều lý do thối nát khác nữa) mà chế độ phong kiến ở nhiều nước bị đổ nhào. Và tại những cuộc cách mạng long trời lở đất đó, trong đám người hăng hái đi tiên phong, luôn thấp thoáng nhiều bóng doanh nhân. Không phải ngẫu nhiên mà tới hôm nay, trong bảng “phong thần” theo quan điểm xã hội học ở nhiều nước tiên tiến, thì thương gia luôn được xếp lên đầu.

Sáng tác nghệ thuật, ví như vẽ một bức tranh, soạn một bản nhạc, viết một cuốn tiểu thuyết..., cho dù là một thứ lao động khá đặc biệt thì vẫn có thể tính toán trả công. Đương nhiên những thành phẩm của nó sẽ được đong đếm bằng tiền. Và người có tiền để mua, đương nhiên là những người biết làm kinh tế giỏi. Có điều, nghệ thuật vốn tinh tế mơ hồ, nên thường cả người bán lẫn người mua rất khó định đúng được cái giá trị thật của nó. Hoặc vô cùng đắt, hoặc vô cùng rẻ mạt. Giáo sử Thiên Chúa giáo kể rằng, khi đức Giáo Hoàng Julius 2 đặt thiên tài điêu khắc người Ý là Michelangelo vẽ tuyệt tác bích họa trên vòm nhà nguyện Sistine thì đã trả ông một xe cút kít đầy vàng. Còn ở ta, chuyện nhuận bút của nhà thơ Nguyễn Bính cũng đáng kể là điển hình. Xuân năm 1941, ông chủ báo Tế Xuyên Hoàng Hữu Tiếp có đặt Nguyễn Bính làm thơ tết. Mặc cả mãi là một đồng một câu. (Ở Sài Gòn năm đó, 1 xu 1 tô phở, còn 1 chỉ vàng là 8 đồng). Ông Nguyễn ghét tính cò kè mới nghĩ cách chơi lại. Ông làm bài thơ dài 40 câu, sát ngày in mới đưa ra trong đó có dòng “Làm thơ đem bán cho thiên hạ. Thiên hạ đem thơ đọ với tiền”.

Chính vì những giai thoại theo kiểu thành kiến như thế mà cho đến nay, bức tranh đắt giá nhất trong lịch sử hội họa của người Việt vẫn là điều khó đoán. Một phần là do ở ta chưa có những phiên đấu giá minh bạch các họa phẩm kiệt tác kiểu như Christie hay Sotheby vẫn làm. Phần nữa là do vất vả của một thời chiến tranh, đặc biệt ở miền bắc xã hội chủ nghĩa, làm nhiều danh họa quen sinh hoạt trong bần bạch. Vẽ tranh đối với họ là cái nghiệp, là niềm vui, là sự giải thoát. Hơn nữa, bán được tranh tới giá là điều không tưởng bởi cả xã hội đều nghèo. Câu chuyện bảo tàng mỹ thuật mua bức “Bình Văn” khét tiếng của họa sĩ Lê Huy Miến là một trường thiên bi hài. Người sở hữu bức tranh liều lĩnh đòi đổi nó lấy một chiếc xe “lơ” (xe đạp Peugeot), một thứ mà hôm nay giá trị chưa bằng cái áo khoác fake hàng hiệu. Sau nhiều lần mặc cả thì bảo tàng cũng mua “Bình Văn” với giá khoảng hai chiếc xe đạp Tầu. Đại loại, hội họa ở ta đã có một thời lãng mạn bi tráng, hoàn toàn xa lạ với khái niệm đo đếm tài chính. Có lẽ vì thế mà nhiều họa sĩ vẽ tranh xong thì đem cấn nợ cho một ông chủ quán cà-phê lương thiện, hoặc đưa tặng cho một vài người bạn tri âm, tri kỷ. Thương gia ơi, lúc đó ở đâu. Xem lại những bức ảnh đen trắng từ hồi bao cấp chụp mấy “đại thụ” cỡ như ông Nguyễn Sáng, ông Bùi Xuân Phái... ngồi uống rượu bỗng ứa nước mắt. Trên mặt bàn gỗ cong vênh là bơ vơ duy nhất chai rượu gạo nấu lậu (vỉa hè kêu là cuốc lủi). Vậy mà mặt mũi người uống luôn hồng hào phảng phất như đang hạnh phúc. Có phải thế chăng mà giữa nghệ sĩ và thương gia luôn có một khoảng cách.

Thật ra, nghệ thuật và tiền bạc hoàn toàn không phải là cặp phạm trù đối lập hay mâu thuẫn. Lịch sử văn nghệ của nhân loại cho biết, có khá đông văn nghệ sĩ được sinh ra trong nhung lụa, thậm chí có người yêu rồi lấy được vợ rất giầu. Gia đình của họ đa phần đều thành thạo buôn hay bán giỏi, có điều bọn họ tuy rất cố, nhưng vẫn không sao thành được nhà buôn. Danh sĩ người Việt là Cao Bá Quát có bảo “người giầu văn chưa chắc đã dở, người cùng văn chưa chắc đã hay. Có điều, người cùng thì văn thường hay”. Chính vì lẽ “cùng”, nên thỉnh thoảng cũng có những nghệ sĩ lỗi lạc xuất thân từ nhà buôn, nhưng với điều kiện là nhà buôn đó phải đã cùng quẫn vỡ nợ phá sản.Có điều ở đây không có chỗ cho một nghịch lý đảo, tuyệt chưa có một nhà buôn lớn nào mà lại xuất xứ từ một nghệ sĩ thành danh.

Tuy nhiên, nói gì thì nói, vị trí doanh nhân ở ta gần đây đã khác xưa vô cùng. Bởi đơn giản, cũng đã lâu lắm rồi đất nước mới lại có một chu trình ổn định và hòa bình dài lâu. Hiển nhiên văn hóa vẫn là đầu tầu, nhưng song song với nó, vai trò của các doanh nhân ái quốc tài cao học rộng là vô cùng lớn. Có lẽ trong một tương lai gần, bên cạnh những biển phố đã và đang vinh danh các nhà văn hóa Việt, hy vọng sẽ có những con đường mang tên các thương gia Việt.