Đỉnh mù sương

Thứ Ba, 26/07/2016, 12:25:35
 Font Size:     |        Print
 

Minh họa : Đỗ Hoàng Tường

Nằm xuống với một đồng tiền cũ nát

Mở to mắt nhìn lệ rơi trong đêm...

hiếc xe bán tải ISUZU màu xám đen vượt lên lưng chừng con dốc rồi đột ngột phanh lại. Một người đàn ông trẻ đang ngồi ngủ vùi dưới gốc cây dâu da xoan cổ thụ đầu gục lên hai đầu gối khẳng khiu khi xe rú ga dừng lại ngay bên cạnh. Dường như anh ta không hề hay biết những gì tồn tại xung quanh mình. Nhưng cái cách ngồi của anh ta khiến người đi ngang qua, nếu không phải hạng người vô cảm thì không thể không dừng lại.

Người lái xe nhảy xuống.

- Này, anh kia!

Không thấy cái đầu ngẩng lên. Hay anh ta chết rồi cũng nên. Giữa đỉnh dốc mù mịt sương này, biết hỏi ai đường về Chợ Thành đây?

Lái xe lay lay vai người đàn ông.

Khi ấy gió thổi ào ạt trên đỉnh dốc không tên trên cung đường trước khi đến được đỉnh Non Cao. Gió buông tuồng không bị neo giữ cuồn cuộn ràn rạt. Người đàn ông bấy giờ mới ngẩng đầu lên, mở con mắt lờ đờ ngái ngủ như không nhận biết nổi những gì xung quanh.

Anh ta cất giọng khê nồng không tương xứng với gương mặt còn khá trẻ (tuy hơi ngông nghênh và yếm thế):

- Có chuyện gì vậy?

Lái xe chỉ tay xuống chân dốc xa xa:

- Có hai lối dưới kia, lối nào đi Non Cao để đến được Chợ Thành?

Người đàn ông trẻ khẽ mỉm cười:

- Đường khá dài đấy. Để tôi đi cùng. Được không?

- Được quá chứ - Lái xe thở phào - Thú thật, nom cậu hãi bỏ mẹ, khi nãy tôi tưởng cậu ngồi chết bên đường.

Người ấy đứng dậy. Miệng lẩm bẩm như gã điên. Chết xuống ngục tối rồi. Chết rục rồi đấy.

Xe tiếp tục lăn bánh.

Đường vùng núi ngoằn ngoèo đất chảy nhão dù không có mưa. Bụi cuốn đỏ phía sau và cả phía trước mũi xe. Sương mù dày đặc khiến người lái phải căng mắt, đồng tử mở to tựa như đang va đập liên hồi với những hạt sương mỏng mảnh lửng lơ.

“Thật ra cậu đi đâu? Cậu người vùng này à?”.

Không trả lời câu hỏi của lái xe. Anh ta cười một tràng dài. Tiếng cười khùng khục, đục ngầu. Lát sau, thì như tiếng của nước đang xổ ra khắp sườn đồi, chảy dài vô tận một màu xanh rừng, màu máu của rừng...

*

Câu chuyện của người đàn ông trẻ

Ông đến Chợ Thành mua trầm nam hay tìm lũa? Hay tìm loại gỗ ngọc am để chưng cất tinh dầu? Trong nhà mà có cái gối gỗ ngọc am thì coi như giữ được của quý. Nếu nhức đầu mà gối lên cái gối gỗ ngọc am, lúc sau sẽ hết đau. Ông không biết tôi sẽ chỉ cho ông chỗ mua được giá lại đúng là gỗ già, mang về xuôi bán, lời đôi ba giá.

Ông nom đôi bàn tay tôi đây này. Đôi bàn tay này chưa giết người, chưa trộm cắp vặt. Nhưng cứ nhìn những đường gân xù xì từng u thịt nổi lên chai sần, sao có thể tự nhận mình là người lương thiện? Tôi cưa cây xẻ gỗ buôn gỗ quý. Tôi được họ xếp hạng lâm tặc đặc biệt nguy hiểm. Lãnh án ba năm vì tội chống người thi hành công vụ. Ba năm, chắc ông thấy ớn tôi nhỉ?

Ông đã bao giờ đắm mình trong u tịch của rừng chưa? Ông có dám chắc mình yêu rừng hơn kẻ tội đồ là tôi đây? Có dám chắc bao kẻ hò la kiểu hô hét của đám đông, rằng họ yêu rừng, rằng đừng phá rừng, những kẻ đó yêu rừng hơn kẻ tội đồ này? Các người yêu rừng, phải rồi. Còn tôi, tôi cũng yêu rừng theo cách của mình. Khi mặt trời lên, rừng như nhuốm một màu phong sương của thiên đàng trên mặt đất. Muôn loài thức dậy hoan hỉ. Chúng tôi cũng hoan hỉ vào rừng, lật từng thớ đất, từng thảm lá để tìm kiếm lộc rừng. Đôi khi có những mầm non nhú lên. Tôi bứng lên đặt chúng vào nơi có thảm lá ẩm mục, ánh nắng mặt trời có thể chiếu xuống đủ cho cây non vươn lên ngạo nghễ. Cũng đôi khi tôi phải đặt lại tổ ong bị vỡ do mưa rừng gió xoáy rơi tơi tả. Lũ ong ngơ ngác tìm tổ, khi biết tổ đã khá chắc chắn, chúng hoan hỉ điệu nhạc đinh tai nhức óc. Nhưng lũ ong rừng tinh khôn không bao giờ đốt kẻ giúp cho tổ của chúng bình an. Rồi cũng có khi tôi gặp những con sóc nhỏ bị thương lả đi trong lớp cỏ. Chúng tôi bôi thuốc cho chúng, giúp chúng hồi sinh.

Ông phải biết, chúng tôi chiến đấu với những kẻ được trao quyền nhân danh công lý. Hễ chúng tôi lùi là họ tiến gấp trăm lần. Hễ chúng tôi tiến một bước là họ dừng lại để tìm hướng tiêu diệt mới. Chúng tôi moi của rừng một thân lũa, thì họ nhân danh chúng tôi (tôi có tật hay nói bóng bẩy, tật này tôi bị lây trong tù), thực chất là đổ tội cho lũ lâm tặc để có thể mang ra khỏi rừng hàng chục thân lũa, hàng trăm súc gỗ quý, và còn biết bao sản vật khác.

Tôi thường dạo trong rừng cùng chị Miên.

Chị Miên đang đợi một người, không đợi tôi. Trong xóm núi có một cô bé rất đáng yêu luôn đợi tôi từ rừng về. Nhưng tôi luôn mải nghe tiếng hát của chị Miên. Giờ đây tôi vẫn còn hình dung ra khúc ca được cất lên mỗi buổi chiều khi hoàng hôn sụp xuống rất nhanh trong rừng, tím thẫm hoang hoải, chỉ còn mùi hương lá rừng thoang thoảng, và tiếng suối như khúc hòa tấu khiến lòng người rưng rưng khao khát.

Con đường mòn dẫn tôi lượn quanh những tảng đá nhọn

Ngồi xuống và đưa ngón tay chạm mặt trời

Giọt sương gian dối...

Chị Miên không biết tôi sinh ra không chỉ để nghe chị hát. Tôi vốn mang trong mình dòng máu pha giống ngọa quỷ. Một ngọa quỷ đang ngày ngày rướn mình để cao với bóng nắng đầu cửa rừng. Chị Miên cũng không biết, đôi khi tình yêu là thứ xa xỉ nhất của những sinh linh đã trót đằm mình với rừng, hòa chung với rừng dòng khí huyết vừa mang hình dáng của sinh sôi, vừa trĩu nặng sự hủy diệt.

Chị Miên đẹp man dại. Nhưng là sản phẩm lỗi của đất trời. Ông có hiểu câu chuyện tôi kể không nhỉ?

Ông vào rừng sẽ thấy bất kể cành cây ngọn cỏ loài vật nào cũng có gai, hay ngạnh xù xì để ra oai nhắc nhở, để bảo vệ chính mình. Mõm của loài hổ báo thì khỏi nói, hay như chỉ một con thỏ hiền lành, cũng có đôi tai dài để nghe ngóng. Chị Miên thánh thiện và trong vắt như thế, hỏi lấy gì để che chắn? Đó chính là lỗi của đất trời.

Những mùa xuân của tôi khi có chị Miên bên cạnh là những khúc hoan ca dào dạt và vô tận. Những mùa xuân của chị Miên khi vắng bóng một người là những mùa xuân u tối. Chúng tôi hai người, hai thế giới khác biệt, như nước chảy đôi dòng, như luồng khí lấn át nóng lạnh để không thể sinh sôi ra những hạt nước lóng lánh từ cửa trời. Tôi gầm gào khát vọng, coi rẻ bước chân cô bé ngày ngày ra bìa rừng ngóng đợi tôi trở về. Tôi đi bên cạnh chị Miên mà cô đơn sầu muộn, như loài cỏ ngơ ngác dưới những tán cây xanh mướt mát.

Để xem xe đi đến đâu rồi? Gần đến cánh rừng Hoang. Nơi ấy có một vạt rừng mọc toàn cây lá ngón. Đấy, tôi đã kể ông nghe, ngay cả rừng, rộng lớn và huyền bí là vậy, cũng cứ phải có những thứ xù xì, những vũ khí để bảo vệ mình. Cây lá ngón là vũ khí của rừng chống kẻ lạ. Nhưng cây lá ngón cũng là sự cứu cánh cho những linh hồn lạc. May thay. Nếu không biết lấy gì để vớt linh hồn ra khỏi bể khổ nhầy nhụa dục vọng, đớn đau, tủi hổ, khinh rẻ sự sống, mặc xác sự sống?

Chị Miên đã ăn thứ lá ấy và nằm xuống vạt rừng Hoang, nơi có tầng tầng lớp lớp cây lá ngón. Chị Miên quyết đi mang theo nỗi thù hận tôi. Bởi tôi đã khiến chị thành đàn bà, trong cơn khát cuồng đàn ông kìm nén bao lâu. Máu huyết của tôi và chị Miên đã hòa quyện, có muốn xóa cũng không tài nào xóa nổi, muốn tẩy rửa để trở lại trong trắng tinh khôi cũng không thể. Tôi đã mang đến cho chị Miên thứ tinh túy chân thành và tinh khôi của tôi, nhưng lại là thứ nhơ nhớp trong thân thể chị ấy, để kiếp này qua kiếp khác, tôi mắc nợ Miên, sẽ phải gặp lại để trả nợ kiếp này hay kiếp khác...

*

Không còn thứ âm thanh như tiếng rên rỉ của kẻ bị trọng thương. Xe đã xuống đến chân dốc và chuẩn bị leo lên một con dốc khác. Đường trải nhựa từ nhiều năm rồi nên giờ đây bong tróc không còn hình thù của một con đường liên tỉnh.

Lái xe nhìn thấy xa xa, nơi đỉnh Non Cao, những vồng mây trắng đang trôi nhẹ nhàng, phủ xuống cả một vùng xanh mát.

“Số phận vô cớ ngược đãi chúng ta. Hay chúng ta đã ngược đãi chính mình? Cuộc đời là thế đấy, anh bạn. Hãy ngẩng lên, đừng giả vờ ngủ nữa”.

Đột nhiên cả hai nghe thấy có ai đó ở sâu trong rừng phía tay phải, đang ca khúc ca rất ngọt ngào, rõ ràng như hát cho chính họ nghe.

Cả khi nắng không còn thủy tinh không còn khói nồng mùa rạ mới

Hoàng hôn trĩu nặng cánh chim ngàn

Để lại trên đá dáng hình mỏng như làn sương trên cỏ úa

Trong vạt rừng thưa thấp thoáng bóng những người trồng rừng.

Bấy giờ người đàn ông trẻ mới quay sang hỏi lái xe:

- Tóm lại là ông đang đi đâu?

- Chợ Thành. Tôi đã nói rồi mà.

- Ông kiếm gì ở đấy?

- Tôi là tay lãng tử của thị thành - Lái xe cười - Tôi có người quen giới thiệu lên đây tìm giống phượng hoa tím để đặt ươm hàng loạt...

- Phượng tím? Ông đặt ươm giống ấy làm gì?

Lái xe rướn người nhả phanh. Tiếng hát vẫn quanh quất bảng lảng như bám đuổi theo chiếc xe mang dáng dấp thị thành.

Ngồi xuống và đưa ngón tay chạm mặt trời...

*

Lái xe nhớ lại hôm anh ngồi bàn việc trồng lại hàng loạt cây xanh cùng Chủ tịch thành phố. Trên các tuyến đường phố mới hầu như chưa có bóng cây xanh nào. Đã trải qua một loạt biến cố, thành phố giờ đây đang cần rất nhiều cây phủ xanh, tạo lá phổi cho đô thị.

Chủ tịch thành phố rất trẻ.

- Anh hãy trình bày cho tôi phương án mà anh ấp ủ, điều khiến anh cần gặp tôi hôm nay?

Anh từ tốn nêu phương án của mình:

- Tôi nghĩ anh nên cho duyệt phương án trồng phượng trên dải phân cách các đường phố lớn. Thứ nhất, lá phượng rụng xuống sẽ tự tiêu hủy, trở thành lớp đất xốp cho cây, khi có mưa sẽ trôi xuống cống rãnh. Ta đỡ được công dọn lá như các loài cây khác. Thứ hai, khi phượng đủ lớn, ta sẽ tỉa đỡ cành khống chế độ cao. Như vậy sau ba năm chúng ta sẽ có rừng cây giữa thành phố...

- Khoan đã, tôi hiểu. Nhưng cũng không thể trồng phượng tất cả các tuyến phố.

- Vâng, tôi sẽ đi khảo sát thêm. Nhưng chắc chắn là phượng đỏ, vàng, tím sẽ là ba sắc màu cùng màu xanh của lá phượng tạo nên sức sống mới cho các đường phố của chúng ta.

- Tôi nhất trí với phương án anh vừa nêu. Việc tiếp theo là tôi sẽ phải thuyết phục các đồng chí lãnh đạo thành phố, báo cáo chính phủ và xin ý kiến của nhân dân...

*

Xe đã đến đỉnh đèo Non Cao. Lô xô mái lá những ngôi nhà tường chình. Lái xe dừng lại trước một quán nhỏ.

Người đàn ông trẻ nhìn như thôi miên vào trong quán.

Lái xe nhấp từng ngụm trà nóng, rồi bàn với người đàn ông trẻ:

- Tôi định nhờ cậu tìm và ươm giống phượng tím cho tôi đem về xuôi. Sẽ có dự án đàng hoàng. Cậu người ở đây có kinh nghiệm, lại yêu rừng yêu cây...

Lúc đó, một ánh mắt từ trong quán nhìn ra, chạm vào gương mặt người đàn ông, dường như có luồng điện giật khiến anh ta sững sờ. Nhưng rồi ánh mắt ấy lại quay đi. Chỉ còn thấy tấm lưng thon.

Anh ta khẽ lẩm bẩm:

“Son đấy anh ạ. Đó là cô bé luôn đứng đợi ở bìa rừng chờ tôi về...”.

Ngập ngừng gọi:

- Son phải không?

Cô gái bước ra:

- Anh Lân! Anh ra rồi à? Em là Phấn, em chị Son, anh quên rồi sao?

- Son đâu?

Phấn cười khẽ khàng:

“Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...”.

Rồi cô hát, cười đấy mà sao bài hát nghe buồn như làn sương mù đang trải khắp thung cao:

Nằm xuống với một đồng tiền cũ nát.

Mở to mắt nhìn lệ rơi trong đêm...

10-7-2016

(*) Những ca từ trong truyện ngắn là thơ của tác giả.

Lời bàn của nhà thơ TRẦN ĐĂNG KHOA:

Nếu cứ nhìn hình dáng bên ngoài, Võ Thị Xuân Hà như người mẫu thời trang. Nhưng chị đã là nữ nhà văn nổi tiếng từ những năm 80, 90 của... thế kỷ trước. Truyện ngắn này làm bạn đọc quen thuộc của chị ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng vì sự mới lạ. Mới lạ là so với chính chị. Bởi nó vừa hiện thực lại vừa có gì giống như là sự huyền ảo. Một áng mây pha sương lãng đãng bay qua triền núi vắng chăng? Không! Hình như nó là một giấc mơ lửng lơ của một người đàn bà ngủ muộn. Cũng chả phải. Nó đúng là văn của Võ Thị Xuân Hà. Chị đang tự làm mới mình để chinh phục bạn đọc, nhất là những người từng trải và có phần trễ nải, chẳng còn thấy gì mới lạ trên cõi đời này...

Truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà