Công nghiệp sáng tạo ở Việt Nam:

Làm gì để bứt phá?

Thứ Ba, 26/07/2016, 12:37:13
 Font Size:     |        Print
 

Lê Cát Trọng Lý biểu diễn tại Heritage Space, một không gian văn hóa uy tín tại Hà Nội.

Việt Nam đã và đang có đầy đủ các yếu tố nền tảng để gây dựng cho một ngành công nghiệp sáng tạo (CNST), có khả năng đem lại hàng triệu việc làm và nguồn thu quốc gia không hề nhỏ. Nhưng làm thế nào để các yếu tố nền tảng thật sự tạo đà cho nền công nghiệp này tiến thêm những bước phát triển vững chắc vẫn là câu hỏi chưa tìm ra lời giải đáp.

CNST ở Việt Nam rất giàu tiềm năng

Nếu nói CNST được khơi nguồn từ sự sáng tạo cá nhân có liên đới đến văn hóa nghệ thuật thì có thể nói, Việt Nam thật sự rất giàu tiềm năng cho ngành công nghiệp này phát triển. Theo ông Bùi Hoài Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, “bốn điểm mạnh tạo đà cho chiến lược phát triển ngành công nghiệp này ở Việt Nam chính là một nền văn hóa độc đáo giàu bản sắc; những con người tài năng, sáng tạo; một nền tảng lịch sử mang tính thích ứng và tinh thần đổi mới cao cùng cam kết chiến lược mạnh mẽ của Chính phủ (Nghị quyết số 31/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế).

Riêng ở góc độ con người và những nỗ lực cá nhân - tiềm năng cho CNST, một nghiên cứu mới đây nhất của Hội đồng Anh về các không gian sáng tạo như những điểm khởi động thúc đẩy CNST phát triển ở Việt Nam đã cho thấy tiềm năng to lớn này. Theo nghiên cứu, cả nước hiện có khoảng 40 không gian sáng tạo, tập trung ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành như Hải Phòng, Thái Bình, Huế... Đây là một con số khiến chính bà Uyên Ly - người phụ trách nghiên cứu, cũng phải ngạc nhiên vì nó lớn hơn nhiều so với hình dung ban đầu. Đó là các không gian liên quan mật thiết đến nghệ thuật thị giác, âm nhạc, điện ảnh, múa, thiết kế, công nghệ thông tin và truyền thông. Rất đa dạng về mô hình (một không gian làm việc chung, một cơ sở đào tạo, một tụ điểm trao đổi tri thức và trải nghiệm về mọi lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thậm chí là cả một không gian giao lưu văn hóa - sáng tạo trực tuyến), chúng có vai trò hết sức quan trọng trong việc kết nối các cá nhân có tinh thần sáng tạo và có khát vọng trong định hướng kinh doanh từ chính các ý tưởng sáng tạo của mình, hỗ trợ nhau và làm lan tỏa ra cộng đồng xã hội những tinh thần sống mới, tích cực, sáng tạo, giàu bản ngã. Điều đáng nói tất cả các không gian này đều do các cá nhân nỗ lực hợp nhau lại cùng thực hiện. Những thăng trầm, hợp tan của các không gian này diễn ra với mật độ khá dày đặc trong những năm qua, rất may mắn là không khiến nhiều người chùn bước.

Bên cạnh những tiềm năng nội tại, CNST ở Việt Nam còn được khuyến khích và góp sức của một số tổ chức, cơ quan chính phủ nước ngoài tại Việt Nam. Đại sứ quán Đan Mạch, Hội đồng Anh thật sự là những đối tác tích cực của chúng ta trong việc góp phần thúc đẩy các hoạt động, các chương trình hội thảo, trao đổi chính sách kích thích sự tham gia của từ chính phủ đến các thành phần xã hội khác vào nền CNST đang manh nha hình thành ở Việt Nam. Hội đồng Anh đã xây dựng được một mạng lưới doanh nhân sáng tạo trẻ ở Việt Nam, thông qua ít nhất là bốn kỳ thi tìm kiếm trong các lĩnh vực thời trang, điện ảnh, thiết kế và điện ảnh/ truyền thông đa phương tiện.

Nhưng cần gì để bứt phá?

Theo PGS, TS Lương Hồng Quang, Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, điểm yếu trong nhân tố con người khi tham gia vào một trong các khía cạnh nền tảng cho CNST ở Việt Nam là thiếu sự kết nối và hợp tác thật sự giữa các nhóm và cá nhân sáng tạo. Mạnh ai người đó làm, “đèn nhà ai nấy rạng” - đặc tính cố hữu của tư duy tiểu nông vẫn còn tồn tại đâu đó trong tâm lý của những người trẻ, tưởng như rất hiện đại và rộng mở về tư duy. Điểm yếu này cùng với sự phát triển tự phát của nhiều mô hình không gian sáng tạo đã dẫn đến thực tế “sớm nở tối tàn” của nhiều địa chỉ vốn hứa hẹn sống khỏe lúc ban đầu. Bên cạnh đó, mặc dù con số thống kê không gian sáng tạo khá lớn nhưng hầu hết chỉ là những không gian nhỏ lẻ. Mô hình quanh quẩn chỉ là một không gian quán cafe và có giới thiệu nghệ thuật, trao đổi tri thức định kỳ, hoặc dừng lại là các không gian trực tuyến trao đổi thông tin, tri thức, quan điểm sáng tạo thiên về xu hướng phi lợi nhuận. Những địa chỉ này có khả năng kích thích sự sáng tạo nói chung trong cộng đồng liên quan nhưng để gây dựng thành các tụ điểm không gian sáng tạo thật sự lại cần đến các mô hình hợp tác, quy tụ lớn hơn. Theo ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Tập đoàn truyền thông Le Bros, chỉ có hai trong con số thống kê 40 không gian của Hội đồng Anh thật sự hội tụ đủ điều kiện cho một không gian sáng tạo đích thực.

Nhìn rộng ra các lĩnh vực của công nghiệp sáng tạo ở Việt Nam, có vẻ như lĩnh vực nào chúng ta cũng giàu tiềm năng phát triển và không thiếu nguồn lực tài chính để đầu tư nhưng trong thực tế thì hoặc là ngày một lạc hậu, hoặc phát triển một cách lệch lạc, chạy theo nhiều yếu tố giải trí dễ dãi mà quên đi yếu tố cốt lõi để phát triển bền vững chính là nội lực sáng tạo. Phim ảnh chưa thể trở thành công nghiệp điện ảnh và đang đối diện nguy cơ bị bóp nghẹt bởi tác dụng ngược trở lại, từ sự mở cửa đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh rạp chiếu và phát hành phim như một yêu cầu bắt buộc của phát triển kinh tế thị trường. Âm nhạc giải trí chứng kiến sự lên ngôi của quá nhiều ngôi sao bắt chước các dòng nhạc thịnh hành trên thế giới cùng các phiên bản truyền hình thực tế của nước ngoài, trong khi yếu tố sáng tạo ngày càng bị chìm lấp. Ngành xuất bản thì chỉ thấy sự chiếm ưu thế của sách dịch, truyện tranh Hàn Quốc, Nhật Bản. Ngành truyền hình thì cho thấy sự chiếm sóng của phim truyền hình nước ngoài hoặc phim truyền hình trong nước phỏng theo các format, kịch bản phim nước ngoài... Theo ông Bùi Hoài Sơn, hai trong số năm thách thức lớn nhất trong việc hình thành và phát triển nền CNST ở Việt Nam chính là “sự thiếu hụt giáo dục sáng tạo và khoảng trống nghiêm trọng về kỹ năng chuyên môn”. Từ đó dẫn đến tình trạng chạy theo bắt chước xu hướng bên ngoài giúp dễ dàng, nhanh chóng có được sản phẩm, và “sự trì trệ, thiếu năng động từ các cơ quan Nhà nước” dẫn đến tình trạng có thể dễ dàng bày tỏ các cam kết về mặt lý thuyết nhưng rất khó khăn và kéo dài trong việc đổi mới đầu tư cho các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, hoàn thiện thể chế, bộ máy cho sự phát triển nguồn nhân lực của CNST.

Hơn thế nữa, nhìn ở góc độ vĩ mô, ông Lê Quốc Vinh còn thẳng thắn cho rằng: Việt Nam đang gọi CNST là công nghiệp văn hóa (CNVH). Bộ VHTT&DL đang hoàn thiện Chiến lược phát triển Công nghiệp văn hóa tới năm 2030. Và định hướng cụ thể cho một số ngành công nghiệp văn hóa thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ cũng được nêu trong Đề cương bao gồm: du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, thời trang, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm.. Nhưng CNVH chỉ là một phần của CNST với 13 lĩnh vực, trong đó có cả kiến trúc, xuất bản, quảng cáo, truyền thông, phần mềm, nội dung số, thiết kế công nghiệp, dịch vụ nghe nhìn và cả ẩm thực... Nếu chiểu theo các lĩnh vực trong CNVH thì rõ ràng chính chúng ta lại chưa có quy hoạch phát triển CNST những lĩnh vực ngành nghề có khả năng đem lại lợi nhuận kinh doanh gấp bội.

Để CNST thật sự phát triển cần rất nhiều nguồn lực và sự hợp tác với các đối tác bên ngoài đất nước. Song điều quan trọng cốt lõi là xây dựng được chiến lược phát triển phù hợp với hoàn cảnh đất nước, đồng thời tranh thủ được những kinh nghiệm lịch sử và thực tiễn của thế giới. Hy vọng là tới đây, thông qua nhiều chương trình trao đổi và đối thoại chính sách tiếp theo về các không gian sáng tạo và CNST giữa một số cơ quan, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam và các cơ quan liên quan của Bộ VHTTDL, chúng ta sẽ sớm có được một khung chính sách linh hoạt, khuyến khích và kích thích cho ngành công nghiệp mới mẻ này thật sự tận dụng được các cơ hội phát triển trong tương lai gần.

Tạo ra 2,8 triệu việc làm và đóng góp xấp xỉ 120 tỷ USD vào nền kinh tế (theo Báo cáo về đóng góp của Kinh tế Sáng tạo - Bộ Văn hóa, Truyền thông và Thể thao Vương quốc Anh tháng 1-2016), kết quả mà ngành CNST nước Anh thu được quả là rất ấn tượng. Trong khi đó, dân số ở Anh không hề có lợi thế nguồn dân số trẻ mà Việt Nam đang sở hữu hiện nay.

Bốn điểm mạnh tạo đà cho chiến lược phát triển ngành công nghiệp này ở Việt Nam chính là một nền văn hóa độc đáo giàu bản sắc; những con người tài năng, sáng tạo; một nền tảng lịch sử mang tính thích ứng và tinh thần đổi mới cao cùng cam kết chiến lược mạnh mẽ của Chính phủ.

Chi Mai