Tết quê xưa dấu yêu

Thứ Tư, 15/01/2020, 14:58:59
 Font Size:     |        Print

Trong bản lý lịch tự thuật, mục Nguyên quán, tôi khai: Ninh Bình. Tôi sinh ra và lớn lên ở Nam Định. Quê ngoại tôi ở Hà Nam. Khi còn sáp nhập ba tỉnh thành Hà Nam Ninh thì cùng quê, khi tách tỉnh thành ra ba quê. Năm chốn bốn nơi là thế, gia đình nhà tôi ít khi ăn cái Tết trọn vẹn ở một quê. Nhưng có một cái Tết quê xưa đã in đậm trong trí não của tôi.

Dự báo thời tiết ngày mười hai tháng hai tức là ngày mùng bốn Tết âm lịch: Gió mùa đông bắc tăng cường, nhiệt độ xuống thấp, rét đậm.

Trời thấp, xám xịt. Đất đai đang phình bụng phơi mầu nâu bạc dưới cái rét. Dăm ba cây cải bắp để dành ra giêng đứng chơ vơ giữa ruộng màu. Nước trong veo, nhạt thếch. Đường làng gồ ghề, vắng lặng. Nghe tiếng ô-tô bọn trẻ con bỗng đâu chạy túa ra. Chúng hò reo, mặt mũi hớn hở. Ngày Tết nên áo quần chúng mặc lành lặn cả nhưng cúc áo cúc quần cái đứt cái còn thành ra vẫn lòi cả da thịt. Chúng chạy chân trần, băng băng phía trước xe, rồi ngoái đầu nhìn lại cười như nắc nẻ.

Nhà bác Cả đổ mái bằng to nhất làng, bác bảo chúng tôi sẽ nghỉ ngơi ở đấy. Cha tôi đồng ý. Ngày Tết nên việc ăn uống diễn ra chóng vánh hơn vì mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn. Ăn xong, cha tôi đi trước, chúng tôi theo sau đi thăm họ mạc.

Nhà thím tôi, chú đã mất để lại bốn người con, nay cái nhà cũng đã xây lại lợp ngói. Cha tôi mở lồng bàn thấy mâm cơm có thịt ngan, giò lụa, mặt cha tôi giãn ra vui vẻ.

Ở quê ruột thịt gần nhất chỉ còn bác Cả với thím. Sau đến các chú, các bác họ xa. Nhà chú Truyền ở xóm ngoài, đi mỏi nhừ chân mới đến. Nhà vắng lặng tối om. Cha tôi hắng giọng thì cửa liếp mới được đẩy ra. Chú Truyền đứng ở cửa đón khách, cuống quít cả lên khi biết cha con tôi tới thăm. Thằng em tôi bỗng cười rinh rích. Nó kéo cổ tôi thì thầm:

- Chị xem, quần bò của em thải ra ông ấy mặc kìa.

Tôi vội bịt chặt lấy miệng thằng em. Nó to cao nên quần của nó vừa dài vừa rộng. Nó lại thích mốt nên lấy đá mài, mài cho sờn đầu gối. Bởi thế, chiếc quần trông vẫn mới nhưng đầu gối đã rách. Nó lấy làm thích lắm cứ luôn mặc cái quần hở đầu gối ra. Chả biết cha tôi gói gửi về quê lúc nào, nay chú Truyền mặc phải vận lên bốn gấu. Hai chỗ rách ở đầu gối được chú vá bằng hai miếng vải gụ. Ở đằng sau trang trí nào móc nào xích, cứ xủng xoảng sau lưng chú Truyền. Chiếc áo khoác đen của mẹ tôi may kiểu ký giả đã lỗi mốt được chú mặc ra ngoài chiếc áo bộ đội.

Chúng tôi phải cố lắm mới khỏi phá lên cười.

- Nhà em dẫn cháu đi mua thắt lưng, sáng ba mươi mẹ nó đi chợ, thằng Tí dặn mẹ mua cho nó cái thắt lưng mầu “da mặt mẹ”. Mẹ nó mua mầu đen nó bắt đền nay phải mang đi đổi.

Thắt lưng màu “da mặt mẹ”. Đến nước này thì chúng tôi không thể nhịn được cười cùng phá ra khanh khách, hí hí. Cha tôi có vẻ giận lắm. Thằng Thanh vô tư cứ hỏi đi hỏi lại:

- Mầu “da mặt mẹ” là mầu gì hả chú?

- Nào chú có biết đâu nhưng nó cứ chỉ mặt mẹ nó mà bảo phải giống mầu da mặt mới được.

Chúng tôi lại đổ ra giường cười.

Đang cười thì cô Truyền le te nghe có khách chạy về. Nhìn thấy cô, trận cười của chúng tôi lại bùng lên. Chiếc áo len thụng lỗi mốt dài đến gối của tôi cũng được gửi về quê. Cô Truyền, mặc như chiếc áo tế. Thêm chiếc quần thâm bằng vải nilon được xắn lên trên gối để lội ruộng. Lâu ngày thành nếp, dẫu có bỏ xuống thì nó vẫn tự xoắn lại như chiếc lò xo bị giãn không đều, phía trước cao đến gần đầu gối, phía sau đến lưng bụng chân. Mỗi bước đi hai ống quần cứ nhảy lên nhảy xuống.

Cha tôi gằn giọng bảo:

- Đừng cười nữa, các con hãy ngắm xem mầu “da mặt mẹ”, người quê ta nó như thế nào?

Chúng tôi ngừng bặt.

Người dân quê cha tôi đến hơn năm mươi phần trăm theo đạo Thiên chúa. Ngay cả cô Truyền, người đàn bà nghèo khổ ở rìa làng cũng có một gương mặt đẹp, mặt trái xoan, đôi mắt nâu to, mũi thẳng, miệng tươi, hàm răng đẹp. Những gió mưa đồng chiêm trũng đã nhuộm tái nước da thành ra bây giờ da mặt cô Truyền có một mầu nâu sạm đen, lại thêm một lớp mốc do tiết trời hanh heo, giá rét.

Chúng tôi đang nghĩ ngợi thì cha tôi bảo chúng tôi đi về.

Bữa cơm chiều đã được bác tôi dọn ra tươm tất. Mùi cơm gạo tám xoan thơm ngào ngạt. Và miếng cơm vào miệng nhai chậm rãi mới cảm thấy hết cái ngọt, cái ngậy, cái thơm của hạt gạo quê.

- Gạo quê mình vẫn ngon thế chị nhỉ? Cha tôi gật gù.

- Trồng nó cũng nhiều công phu lắm đấy.

Buổi tối, anh Bằng con út của bác Cả xấp xỉ tuổi với chúng tôi rủ:

- Hôm nay huyện mang máy về xã này chiếu bóng đấy, chúng mày có muốn đi xem không?

- Ôi dào, toàn phim cũ rích xem làm gì. Anh thích đi xem hôm nào lên nhà em, em thuê toàn phim mới về cho mà xem.

- Mày ngốc lắm Sơn ạ. Đi xem ở bãi thích lắm, tha hồ mà...

Anh Bằng nhìn tôi rồi kéo Sơn thì thầm vào tai nó. Thằng Sơn mắt sáng lên rồi gật gù:

- Thật đấy à. Thế thì chị Hoa đừng đi. Chị phải ở nhà.

Anh Bằng sắp sửa đưa hai thằng em tôi đi xem phim thì bác tôi chạy ra bảo:

- Mày đi xem thì đi chân không thôi. Mày đi dép, rồi du nhau mất dép lại tốn mấy đồng bạc đấy.

- U buồn cười, tôi giấu ở bụi tre nhà ông Đồng gần bãi chiếu phim, mất sao được.

Ở nhà cha tôi ngồi nói chuyện với bác. Tôi ngồi bên hóng.

- Năm ngoái tôi đã gửi tiền về để chị xây lấy cái hố xí tự tiêu thế mà chị vẫn bắc cầu, mùa hè đến, ruồi muỗi chết.

- Thế nó tiêu hết thì lấy gì mà bón. Cây lúa cây khoai nó cần phân như người mình cần thức ăn, thức uống vậy. Cái thức người ăn cũng có đồ giả, đồ thật thì thứ phân bón cũng có đồ làm giả. Bảo phân đạm phân lân làm giả đã đành, nay đến phân người cũng làm giả. Vụ trước tôi mua một xe thồ phân bắc về làm màu, ai ngờ đến nửa xe là đất trộn với phân. Vì cái sự ấy nên của nhà mình làm ra chẳng hơn à.

Cha tôi bỏ giữa chừng câu chuyện đi ngủ sớm. Đến khoảng hơn tám giờ đêm thì tan phim. Anh em Bằng kéo nhau về. Thằng Thanh quần áo lấm be bét, mặt mày ngơ ngác. Thằng Sơn với anh Bằng thì cứ nháy nhau cười khi khí.

- Mày thấy không? Phim thì hay quái gì đâu nhưng mà chen nhau mới hay. Tao biết con Thơm ấy cũng phổng phao lắm rồi. Cuối năm tao bảo bác sang hỏi nó cho tao lấy làm vợ.

Thằng Thanh ấm ức khóc, bác kéo nó vào lòng hỏi sự tình:

- Anh Bằng cứ thích chen vào đám con gái. Anh ấy bảo cháu đứng trước, anh ấy đứng sau. Anh ấy ép chặt cháu vào lưng các chị ấy. Các chị ấy quay lại chửi cháu mà cháu có làm gì đâu. Có chị lại túm tóc cháu giật.

Tối hôm ấy thằng Sơn cứ nhất định đòi ngủ với anh Bằng, mặc dù nó hơn anh Bằng hai tuổi và chê anh là học ít.

Sáng ngày mùng năm trời bỗng sáng bừng lên, đến chín giờ mặt trời ló ra. Cả làng nhốn nháo. Đợt rét đậm kéo dài đến nửa tháng, nên việc bỏ phân bị trễ. Không bỏ nhanh lại không kịp vụ cấy.

Bác tôi bảo:

- Cậu đưa các cháu ra chùa đi, nay nhà lấy phân bỏ ruộng.

Cha con tôi lững thững ra chùa. Ông cụ chùa ra đón cha tôi tay bắt mặt mừng ông dẫn cha tôi vào giữa chùa chỉ chiếc đỉnh đồng.

- Cái đỉnh của cậu phúng, tôi đặt chính giữa.

Cha tôi thắp hương cắm vào các bát hương. Rồi ông dẫn cha tôi ra cổng.

- Thế đôi voi này cậu có vừa ý không?

Cha tôi lặng lẽ gật đầu.

- Theo gương cậu mà những người làm ăn xa quê gửi về phúng nhiều lắm nên làng xây được cái chùa, cái đình khá khang trang. Ở đây uống nước xong tý nữa cậu ra đình. Để tôi bảo chú tiểu chạy ra gọi mấy ông ở xã vào.

- Thôi cụ ạ, cháu thấy cả làng đang lấy phân bỏ ruộng.

- Ô may quá, thời tiết ấm lên rồi, cắm cây mạ xuống đỡ rét chân.

Lúc về, cha con tôi vòng lên đê. Từ trên đê nhìn xuống đồng, bãi, người nông dân như đàn kiến cần mẫn tha mồi về tổ. Từng đoàn xe cải tiến nối đuôi nhau đổ ra phía ruộng. Những bà, những chị quần xắn đến bẹn, đầu chít thêm một mảnh vải mưa cất thúng phân lên đầu lội đổ ra ruộng. Phân bắc đã được gio thấm bớt nước nên dù có hôi thối nhưng không khổ bằng đội phân chuồng. Phân chuồng gồm phân, nước giải lợn, rác, rau, rơm ủ mục. Nước phân chảy qua kẽ thúng xuống cổ, xuống áo dù không thối nhưng mùi hôi rất khó chịu. Có lẽ cái mầu “da mặt mẹ” của 80% người dân quê cha tôi còn một phần là do nước phân chuồng chảy qua nữa. Nước ruộng trong veo, nhạt thếch bỗng đỏ ngầu như vừa có một lớp phù sa lắng đọng.

Buổi chiều cả làng lại trong không khí Tết. Mọi người như vui vẻ hơn vì đã làm xong được một việc. Bây giờ chỉ chờ trời ấm lên nữa là cắm cây mạ xuống rồi lúa cứ thế mà lên.

Y BAN