Cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia

Thứ Bảy, 21/09/2019, 02:05:45

Vừa qua, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố báo cáo về xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2019, theo đó, Việt Nam tăng ba bậc, lên vị trí 42 trong 129 quốc gia/nền kinh tế được xếp hạng. Để tiếp tục cải thiện chỉ số GII, Việt Nam cần đầu tư thích đáng cho nghiên cứu và phát triển, nâng cao chất lượng của đổi mới sáng tạo (ĐMST).

Cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia

Nghiên cứu sinh nghiên cứu khoa học tại Trường đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: ĐĂNG KHOA

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (KH và CN), chỉ số GII là bộ công cụ đánh giá xếp hạng năng lực ĐMST của các quốc gia và các nền kinh tế. Phương pháp đánh giá được hoàn thiện qua các năm và là hệ quy chiếu toàn diện nhất để đánh giá năng lực ĐMST của các quốc gia và các nền kinh tế hiện nay. Chỉ số GII năm 2019 với 21 nhóm chỉ số và 80 tiểu chỉ số, được chia thành bảy trụ cột chính với năm trụ cột đầu vào là: thể chế vĩ mô; nguồn nhân lực và nghiên cứu; cơ sở hạ tầng; thị trường; môi trường kinh doanh, Hai trụ cột đầu ra là: sản phẩm tri thức và công nghệ; sản phẩm sáng tạo. Năm nay, một số chỉ số có cải thiện đáng chú ý so với năm 2018 là: trình độ phát triển của thị trường tăng ba bậc; tín dụng tăng bốn bậc; tăng năng suất lao động tăng ba bậc. Ở hai chỉ số liên quan đầu vào và đầu ra của KH và CN và ĐMST đã có những bước nhảy vọt, cụ thể: chỉ số tổng chi cho nghiên cứu và phát triển tăng năm bậc; chỉ số sản phẩm dựa trên tri thức và công nghệ tăng tám bậc. Điều này được minh chứng qua việc gần đây các tập đoàn lớn tăng cường đầu tư phát triển KH và CN như: Vingroup, CMC, Trường Hải… Việc Việt Nam gia tăng thứ hạng GII là cơ hội để thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Chủ tịch Đại hội đồng WIPO Dương Chí Dũng nhận định, việc cải thiện thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng chỉ số GII 2019 là kết quả của sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Chính phủ, sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương nhằm triển khai đồng bộ các giải pháp. Tuy nhiên, để phát huy tiềm năng sáng tạo to lớn của Việt Nam, cần có chính sách khuyến khích, thúc đẩy ĐMST, bao gồm cả chính sách đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp.

Chuyên gia cao cấp của WIPO, X.Vun-vin-xen cho rằng, Việt Nam có xu hướng tăng dần về thứ hạng chỉ số GII qua các năm, điều đó khẳng định sự cam kết của Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực thúc đẩy ĐMST. Nhưng khi càng gần tốp 40, là những nước có thu nhập vượt trội thì việc cải thiện để vươn lên là điều hết sức khó khăn, cần có sự nỗ lực lớn. Việt Nam cần nỗ lực để nâng cao về chất thay vì về lượng, như: tăng cường cho đầu tư nghiên cứu và phát triển, gia tăng hàm lượng nội địa hóa trong xuất khẩu công nghệ cao. Ngoài ra, cần chú ý cải thiện kết quả ở những trụ cột về cơ sở hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực, trình độ kinh doanh; thúc đẩy các chính sách để thu hút thêm đầu tư từ nước ngoài để nâng cao năng lực trong nước; giữ vững đà tăng trưởng về chất lượng của các hoạt động nghiên cứu và đào tạo nâng cao; tiếp tục tích hợp và áp dụng các kế hoạch, chiến lược sở hữu trí tuệ đáp ứng nhu cầu và chính sách trong nước. Ngoài ra, cần có những đầu tư thích đáng cho nghiên cứu và phát triển nói chung, từ đó mới có thể có những đột phá về kết quả đầu ra như số lượng đăng ký sáng chế và các tài sản trí tuệ khác góp phần nâng cao chất lượng của ĐMST.

Thứ trưởng Bộ KH và CN Bùi Thế Duy cho rằng, để cải thiện năng lực ĐMST quốc gia, Việt Nam cần chú trọng các yếu tố đầu vào và đầu ra của ĐMST. Theo đó, cần tập trung cải thiện các chỉ số còn có thứ hạng thấp và chưa có chuyển biến tích cực trong nhiều năm, như: tạo thuận lợi giải quyết phá sản doanh nghiệp, chi phí sa thải nhân công, tạo điều kiện thuận lợi cho khởi sự kinh doanh, cải thiện chất lượng các quy định pháp luật; xây dựng, trọng dụng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật mạnh nhằm cải thiện nguồn nhân lực cho ĐMST, nhất là cải thiện giáo dục đại học. Trong đó, cần quan tâm đầu tư, phát triển các trường đại học theo định hướng nâng cao chất lượng, tăng hàm lượng nghiên cứu và hợp tác quốc tế, cải thiện các chỉ số: tỷ lệ tuyển sinh đại học, sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học và kỹ thuật, tỷ lệ sinh viên nước ngoài học tập tại Việt Nam; tiếp tục đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó tập trung chú trọng phát triển hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông.

MINH NHẬT