Bước phát triển vượt bậc của ngành bưu chính, viễn thông

Thứ Sáu, 17/09/2010, 06:39:00
Bước phát triển vượt bậc của ngành bưu chính, viễn thông

Ði thẳng vào công nghệ hiện đại

Sau năm năm (1987-1992) tự đổi mới mình cả về tư duy lý luận và tư duy kinh tế, cả về tổ chức và kinh doanh, tự vay - tự trả - tự chịu trách nhiệm và đi thẳng vào công nghệ hiện đại, ngành bưu điện bắt tay thực hiện chiến lược "tăng tốc" cho giai đoạn 1993 - 2000. Giai đoạn thứ nhất của chiến lược tăng tốc từ năm 1993 đến năm 1995 với việc triển khai các hợp đồng hợp tác kinh doanh với các tập đoàn quốc tế lớn dưới dạng nước ngoài góp vốn chia lãi, ta là chủ..., mạng lưới viễn thông đã được đầu tư lớn và hiện đại dần trên phạm vi cả nước, một số liên doanh công nghiệp ra đời, khai thác được đặc tính vì lợi nhuận của các tập đoàn lớn nước ngoài làm yếu tố phá thế cấm vận và giải quyết vấn đề vốn, công nghệ, phát triển nhanh thị trường. Cuối năm 1995 mật độ điện thoại đạt một máy/100 người dân, rút ngắn năm năm so với quy hoạch. Giai đoạn tăng tốc thứ hai được thực hiện trùng với kế hoạch năm năm 1996 - 2000, ngành đã tập trung nâng cao năng lực mạng lưới, phát triển các dịch vụ mới, mở rộng vùng phục vụ xuống nông thôn. Mật độ điện thoại năm 2000 tăng năm lần so với năm 1995.

Ðón trước thời cơ, giai đoạn 2001 - 2010, hướng phát triển của ngành được chuyển sang chiến lược "Hội nhập và phát triển" nhằm tiếp tục tăng tốc, đổi mới quản lý, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, hạ giá thành và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Một mốc đáng nhớ là ngày 29-4-2003, thị trường viễn thông Việt Nam đã xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp và chuyển sang cạnh tranh trên tất cả các loại hình dịch vụ, tạo lập một thị trường viễn thông sôi động, tăng trưởng vượt bậc (tốc độ tăng trưởng đều đạt hơn 20% năm), giá cước giảm mạnh (tới cuối năm 2005, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, giá cước viễn thông Việt Nam đã giảm tương đồng với giá cước viễn thông trong khu vực). Trong môi trường cạnh tranh, người sử dụng đã thật sự trở thành "thượng đế" với nhiều sự lựa chọn.

Ðến nay, mật độ điện thoại trên toàn quốc đạt hơn 20% gấp bốn lần so với năm 2000 (vượt 2,5 lần chỉ tiêu Ðại hội IX), người sử dụng in-tơ-nét đạt hơn 14% (vượt chỉ tiêu đặt ra vào năm 2010), 100% số xã trong cả nước có điện thoại, 91% số xã có báo Ðảng đến trong ngày, gần 80% số xã có điểm bưu điện - văn hóa xã.

Dự kiến các chỉ tiêu phát triển chủ yếu của ngành vào năm 2010 ít nhất đều tăng gấp hai lần so với năm 2005. Ngành đang tiến hành dự thảo "Chiến lược cất cánh" của công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam từ năm 2011 đến 2020, theo đó vào các năm cuối chiến lược Việt Nam sẽ đạt mức bình quân của các nước G7.

Kết hợp nội lực với ngoại lực

Ngay từ những ngày đầu của quá trình đổi mới với phương châm "lấy ngoài nuôi trong", ngành Bưu chính - Viễn thông đã đột phá ngay vào khâu viễn thông quốc tế và tiến hành các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với các tập đoàn lớn trên thế giới. Ðến nay, đã thu hút từ bên ngoài không chỉ công nghệ cao mà cả lượng vốn dồi dào hơn hai tỷ USD để phát triển mạng lưới viễn thông trong nước, ưu tiên đầu tư cho các trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, các vùng có nhu cầu cao, doanh thu lớn, từ đó tạo vốn để phát triển ở những nơi còn lại.

Mở cửa thị trường để thúc đẩy nội lực và phát huy nội lực để mở cửa thị trường là hai mặt của một vấn đề có quan hệ biện chứng trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Việc mở cửa thị trường viễn thông ở Việt Nam đã được thực hiện theo một lộ trình chặt chẽ, hợp lý và khoa học. Năm 1995, Viettel và SPT ra đời cùng với việc thành lập Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông (VNPT) là mở màn cho sự tập dượt cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước.

Từ năm 1997 đến 2003, việc cạnh tranh được tiến hành mở rộng từng bước, lúc đầu là đối với dịch vụ in-tơ-nét, dịch vụ điện thoại đường dài và quốc tế sử dụng công nghệ mới (VoIP), dịch vụ chuyển phát Bưu chính và sau đó, từ năm 2003 đã xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ.

Ðến nay, bên cạnh VNPT doanh nghiệp chủ lực của Nhà nước, đã có thêm bảy doanh nghiệp có cơ sở hạ tầng mạng bao gồm: Viettel, SPT, Vishipel, EVN Telecom, Hanoi Telecom, FPT Telecom, Tổng công ty truyền thông đa phương tiện (VTC) và hơn 20 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế. Chính phủ và Bộ Bưu chính - Viễn thông đã tạo nhiều cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp mới phát triển, nhanh chóng mở rộng thị trường, đồng thời với sự lớn mạnh của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (từ năm 1995 đến 2005 vốn sở hữu của VNPT tăng từ 2 nghìn tỷ lên 44 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách 34 nghìn tỷ đồng), nhằm tạo sức mạnh quốc gia trước khi tham gia vào WTO.

Do bước phát triển vượt bậc của BCVT và CNTT và những đóng góp tích cực trong hoạt động hợp tác quốc tế mà Việt Nam đã trúng cử liên tiếp vào thành viên Hội đồng quản trị cả hai tổ chức quốc tế lớn là Liên minh Bưu chính thế giới UPU và Liên minh Viễn thông quốc tế ITU từ nhiều năm nay.

Phát triển nguồn nhân lực

 Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đánh giá Việt Nam đang thuộc nhóm nước dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển điện thoại, in-tơ-nét và đứng hàng thứ 13 châu Á về ứng dụng CNTT. Ðể bảo đảm sự phát triển bền vững, ngành đã tập trung phát triển nguồn nhân lực. Hệ thống các cơ sở đào tạo của ngành gồm Học viện công nghệ Bưu chính - Viễn thông của VNPT (được thành lập theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 2 (khóa VIII) về thí điểm mô hình gắn kết đào tạo - nghiên cứu - sản xuất trong một số tổng công ty lớn), Trường cao đẳng công nghệ thông tin hữu nghị Việt - Hàn, bốn trường trung học BCVT và CNTT, cùng với hệ thống đào tạo trên toàn quốc và các loại hình đào tạo mới: từ xa, qua mạng... đã giúp ngành chủ động công tác đào tạo, bồi dưỡng. Hệ thống các cơ sở y tế có uy tín của ngành gồm ba bệnh viện và ba viện điều dưỡng bảo đảm việc chăm lo sức khỏe cho cán bộ, công nhân, viên chức toàn ngành và trợ  giúp một phần cho xã hội.

Thông qua các liên doanh nước ngoài, các hình thức liên kết và tự nghiên cứu - phát triển, các sản phẩm công nghiệp trong nước có công nghệ hiện đại, đáp ứng phần lớn nhu cầu phát triển mạng lưới, dịch vụ và một phần xuất khẩu. Một số sản phẩm đáng chú ý là: tổng đài điện tử, thiết bị truyền dẫn số, thiết bị ngoại vi, cáp quang... Công nghiệp phần cứng máy tính những năm gần đây tăng trưởng 20%/năm, trong khi công nghiệp phần mềm có tốc độ cao hơn là 30%.

Công nghiệp trong nước tạo điều kiện cho việc chủ động và phát triển nhanh mạng lưới. Công nghiệp CNTT mà đặc biệt là công nghệ phần mềm một khi trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thì ngoài việc đóng góp tỷ trọng cao trong tăng trưởng GDP, nó còn bảo đảm cho thông tin liên lạc phát triển bền vững trong cả thời bình lẫn thời chiến.

Góp phần phát triển kinh tế tri thức

Nhân loại đang bước vào một thời đại mới, thời đại mà thông tin, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thời đại của xã hội thông tin được hình thành trên cơ sở phát triển và ứng dụng rộng rãi BCVT và CNTT. Cũng giống như các ngành đã từng đóng vai trò động lực trong quá khứ, BCVT và CNTT trở thành điều kiện không thể thiếu cho các quốc gia chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia phù hợp xu thế phát triển của kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu. Ðảng ta đã khẳng định kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công cuộc CNH, HÐH đất nước.

Những năm qua, được sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước, ngành BCVT và CNTT đã có những bước phát triển vượt bậc đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng. Với tốc độ phát triển như hiện nay và tính khả thi cao của các chiến lược đã được phê duyệt thì đến năm 2020, các tiêu chí đặc trưng cho trình độ phát triển BCVT và CNTT của Việt Nam sẽ đạt trình độ của các nước công nghiệp. Sự hợp tác các tập đoàn lớn của thế giới như Alcatel, Siemens, Motorola, Ericcson, France Telecom, NTT, KT, SK,  Hutchison, NEC, LG, IBM, Qualcom... và gần đây nhất là Intel và Microsoft..., thị trường BCVT và CNTT Việt Nam càng có sự hấp dẫn hơn.

Tin tưởng rằng, sự phát triển đi trước một bước của ngành BCVT và CNTT sẽ góp phần thiết thực đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 như mục tiêu của Ðảng đã đề ra.

GS, TSKH   ÐỖ TRUNG TÁ
Ủy viên T.Ư Ðảng, Bộ trưởng Bưu chính - Viễn thông

Theo