Nâng khả năng tiếp cận thị trường vốn Việt Nam

Thứ Hai, 10/06/2019, 01:51:07

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam gần đây đã có những bước tiến mới trong việc hoàn thiện thể chế, khung pháp lý, tăng trưởng về quy mô và tính thanh khoản. Bên cạnh nguồn vốn trong nước, việc thu hút thêm dòng vốn ngoại để từng bước giúp TTCK Việt Nam phát triển, hướng tới các tiêu chuẩn cao hơn là một trong những mục tiêu trọng tâm đang được Ủy ban Chứng khoán nhà nước (CKNN) đặt ra.

Nhà đầu tư ngoại kêu khó

"Không có hàng hóa để đầu tư" là tình trạng nhiều nhà đầu tư nước ngoài (ÐTNN) đang gặp phải khi tìm kiếm cơ hội bỏ tiền vào TTCK Việt Nam. Thống kê trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) cho thấy, tính đến cuối tháng 3-2019, tổng vốn hóa của thị trường đạt khoảng 145 tỷ USD. Trong đó, tổng vốn hóa cho nhà ÐTNN theo luật (không quá 49% vốn điều lệ của công ty) khoảng 72 tỷ USD. Hiện, giá trị nhà ÐTNN đang sở hữu là 35 tỷ USD cho nên tỷ lệ sở hữu (room) còn lại khoảng 18 tỷ USD. Ðây là con số không nhỏ nhưng trong thực tế, gần một nửa room còn lại của thị trường đang nằm ở bốn công ty lớn, gồm: nhóm cổ phiếu Tập đoàn Vingroup - Công ty cổ phần (Vingroup), Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), Công ty cổ phần Tập đoàn đầu tư địa ốc No-va (Novaland), Tổng công ty Ðiện lực Dầu khí Việt Nam (PVPOW). 751 công ty đang niêm yết còn lại chiếm khoảng 50%, tương đương 8,5 tỷ USD, nghĩa là trung bình room nước ngoài tại các công ty này chỉ khoảng 11 triệu USD/công ty. Tổng giám đốc Quỹ Dragon Capital Lê Anh Tuấn phân tích: Các công ty tốt đã hết room thì bị định giá thấp (PE 8,5 lần) trong khi tốp 20 hiện nay có PE 22,3 lần, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chi phí huy động vốn của công ty. Vẫn có lượng tiền không nhỏ muốn đầu tư vào thị trường nhưng lại nằm ở những cổ phiếu đã hết room. Như vậy, nhà ÐTNN muốn bỏ tiền vào Việt Nam cũng khó, không có hàng hóa để đầu tư. Hiện nhà ÐTNN đang nắm giữ 24,6% giá trị giao dịch tại VN-Index, tương đương khoảng 31 tỷ USD và 27,35% trong VN30, tốp ba ngành nắm giữ là tiêu dùng thiết yếu (hơn 50%), ngành công nghệ thông tin (48%) và y tế (hơn 40%).

Mặc dù sự quan tâm của nhà ÐTNN đối với TTCK Việt Nam rất lớn nhưng dòng vốn ngoại vào thị trường vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nghị định số 60/2015/NÐ-CP của Chính phủ về nới tỷ lệ sở hữu cho nhà ÐTNN đã mở hướng cho vốn ngoại nhưng đến nay, số liệu thống kê của HOSE cho thấy, trong 376 công ty niêm yết trên HOSE, chỉ có 25 công ty nâng trần sở hữu nhà ÐTNN lên mức 100%, ba công ty mở room 51% đến 70%, số còn lại chiếm đa số (317 công ty) đều giữ nguyên tỷ lệ 49% hoặc thấp hơn. Nguyên nhân chủ yếu do các doanh nghiệp (DN) gặp khó khăn liên quan đến các vấn đề pháp lý, kinh tế và kỹ thuật. Cụ thể, các công ty niêm yết khi nới room phải rà soát ngành nghề kinh doanh có điều kiện và gặp nhiều khó khăn về tìm hiểu thông tin cũng như tiến hành thủ tục liên quan. Hơn nữa, khi nhà ÐTNN nắm giữ hơn 51%, DN sẽ được xếp vào DN nước ngoài và bị hạn chế nhiều hoạt động trong nền kinh tế vì hiện nay có hơn 100 ngành nghề đầu tư có điều kiện đối với nhà ÐTNN.

Kiến nghị bổ sung sản phẩm mới

Trong bối cảnh đó, vấn đề triển khai tại TTCK Việt Nam sản phẩm cổ phiếu không có quyền biểu quyết và chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (NVDR) một lần nữa lại được đặt ra, nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn cho khối ngoại, tăng tính thanh khoản và nâng hạng thị trường.

Ðại diện HOSE cho biết, NVDR đã được HOSE nghiên cứu gần mười năm trước và đề xuất Ủy ban CKNN triển khai nhưng chưa được chấp thuận vì nhiều lý do. Hiện nay, HOSE tiếp tục đề xuất nội dung này lên Ủy ban CKNN để đưa vào dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi. Ðể triển khai các sản phẩm mới, cần giải quyết hai vấn đề, gồm cơ chế pháp lý cho HOSE thành lập công ty con và cơ chế pháp lý cho NVDR nhằm tách bạch tư cách pháp nhân riêng giữa Sở và tổ chức phát hành NVDR, bảo đảm tính minh bạch, công bằng và tuân thủ chặt chẽ các quy định. Cùng với đó là vấn đề hạ tầng giao dịch; cơ chế pháp lý cho NVDR. Thời gian để chuẩn bị cả về pháp lý và kỹ thuật để đưa sản phẩm vào giao dịch khoảng hai năm. Ưu điểm của NVDR là sẽ giải quyết được câu chuyện của các công ty niêm yết đã hết room khối ngoại, khi nhà đầu tư vẫn có thể sở hữu cổ phiếu thông qua NVDR (thường do một công ty con của Sở giao dịch phát hành). Với việc sở hữu NVDR, nhà đầu tư có đầy đủ quyền hưởng cổ tức tiền mặt, chia thưởng cổ phiếu nhưng không có quyền biểu quyết. Nhà đầu tư ngoại cũng có thể chuyển từ NVDR sang cổ phiếu thông thường trong trường hợp công ty niêm yết còn room sở hữu nước ngoài. Tuy nhiên, nhược điểm của NVDR là tăng chi phí quản lý và vận hành đối với cơ quan quản lý. Bên cạnh đó, nếu nhà ÐTNN sở hữu tỷ lệ NVDR quá lớn có thể dẫn đến việc tổ chức đại hội cổ đông không thành công vì không đủ tỷ lệ biểu quyết,…

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Phan Ðức Hiếu nhấn mạnh: Thị trường luôn kỳ vọng cần có công cụ huy động vốn mới. Ðã đến lúc cần đưa cổ phiếu không có quyền biểu quyết và NVDR vào vận hành. Vì từ rất lâu, các nước trong khu vực đã sử dụng công cụ này như một giải pháp giúp nhà ÐTNN vượt qua thách thức liên quan tỷ lệ sở hữu tối đa, tăng tính hấp dẫn đối với nhà ÐTNN và tăng tính cạnh tranh của thị trường. Ngay cả Thái-lan cũng sử dụng công cụ này từ năm 2000. Nếu không tranh thủ thời điểm đang sửa đổi nhiều luật liên quan như Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Luật Ðầu tư, Việt Nam có thể phải mất 10 năm nữa mới có thể đề cập lại vấn đề này.

BÍCH NGÂN