Những vấn đề cần quan tâm qua mười năm bão, lũ ở miền trung

Thứ Bảy, 18/09/2010, 00:53:00

ND - Cách đây vừa tròn mười năm, trận lũ lịch sử năm 1999 xảy ra ở các tỉnh miền trung. Ðây là trận lũ khủng khiếp chưa từng gặp, lượng mưa từ ngày 1 đến 6-11 phổ biến 600 - 900 mm, những nơi mưa lớn như Trạch Hãn 1.346 mm, Tiên Phước 1.453 mm, Hiệp Ðức 1.370 mm, Cao Lâu 1.211 mm, đặc biệt A Lưới 2.271 mm, Huế 2.288 mm (trong đó lượng mưa một ngày tới 1.384 mm là lượng mưa lớn chưa từng thấy ở nước ta).

Mưa lớn gây lũ lịch sử trên toàn vùng: ngập lụt lớn, chia cắt giữa các vùng, 20 huyện, thị xã ngập sâu từ 2 đến 4 m nước. Sông Hương đổi dòng mở ra hai cửa thoát lũ ra biển là cửa Hòa Duân và Vĩnh Hải là hiện tượng chưa từng xảy ra.

Mười năm đã trôi qua, năm nào miền trung cũng bị thiệt hại do thiên tai gây ra. Riêng ba năm 2002, 2004, 2008 được coi là thiệt hại nhẹ, với mực nước lũ phổ biến dưới báo động 3, các cơn bão ít trực tiếp ảnh hưởng. Các năm còn lại đều đánh dấu những thiệt hại nặng nề về bão. Cơn bão số 1 (Chanchu) tháng 5-2006, cho thấy một nhận dạng rõ hơn về thiên tai trên biển từ dự báo đến chỉ đạo ứng phó, rõ nét hơn về những vấn đề đặt ra với kinh tế biển. Ðầu tháng 10-2006, cơn bão số 6 (Xangsane) đổ bộ trực tiếp vào Ðà Nẵng đã cho thấy: Khả năng tổ chức ứng phó với thiên tai đã nâng lên rõ rệt. Các lực lượng đã thông báo và hướng dẫn 63 nghìn tàu, thuyền về nơi trú ẩn, di dời khẩn cấp 58 nghìn hộ dân với 270 nghìn người về nơi trú ẩn an toàn trước khi bão đổ bộ vào, nên đã hạn chế đến mức thấp nhất về thiệt hại. Thiệt hại về công nghiệp và cơ sở hạ tầng nặng nề cho thấy mối quan hệ giữa phát triển và thiên tai bộc lộ nhiều vấn đề. Ðã đến lúc nhận thức chủ động thích nghi để phát triển bền vững trong môi trường thiên tai ở miền trung phải trở thành một khoa học, một chuẩn mực trong tất cả các dự án phát triển và tổ chức cuộc sống xã hội.

Năm 2009, bão số 9 (Ketsana) đổ bộ vào Quảng Nam, Quảng Ngãi với cường độ trên cấp 10 có bán kính 200 km, trên cấp 6 có bán kính 350 km, bão lớn kèm theo mưa lớn trên diện rộng với lượng mưa từ 400 đến 600 mm, Trà Bồng, Quảng Ngãi 915 mm, Tây Nguyên là vùng bị thiệt hại rất nặng nề về cả người và sản xuất nông nghiệp, đặc biệt với cây công nghiệp dài ngày như cao-su, cà-phê, hồ tiêu... Riêng Kon Tum có 40 người chết và mất tích. Các khu vực sông Thu Bồn, Vu Gia cũng thiệt hại đột biến do xả lũ của thủy điện A Vương. Bão số 11 đổ bộ vào Bình Ðịnh đến Khánh Hòa với cấp 11 và gây mưa lớn trong ba ngày trên diện rộng từ 200 đến 400 mm, tại Vân Canh (Bình Ðịnh) là 700 mm gây nên những hậu quả nặng nề, đặc biệt là Phú Yên lũ quét hình thành trên các lưu vực sông Cái nhấn chìm huyện Ðồng Xuân là hiện tượng chưa từng có. Trên lưu vực sông Ba lũ lớn cộng với xả lũ của thủy điện sông Ba Hạ với lưu lượng 14.500 m3/s (trong khi thủy điện Hòa Bình từ trước tới nay xả lũ lớn nhất cũng chỉ đến 16.000 m3/s) đã làm tăng thêm thiệt hại ở vùng hạ lưu.

Thiên tai ở miền trung những năm qua đã đặt ra vấn đề quản lý tổng hợp lưu vực sông trở nên cấp bách cả về thể chế, hiệu lực và quyền lực một cách hữu hiệu cả về khoa học và điều hành mang tính bảo đảm an toàn quốc gia. Lũ lụt miền trung và Tây Nguyên vừa qua cần được đánh giá toàn diện, trong đó có việc xả lũ của các công trình thủy điện. Phải khẳng định sự phát triển mạnh mẽ có thể gọi là thần tốc của các công trình thủy điện vừa và lớn ở miền trung và Tây Nguyên là phù hợp với sự phát huy thế mạnh của miền trung. Các hồ thủy lợi, thủy điện về nguyên lý bao giờ cũng có tác dụng giảm lũ và điều tiết nước mùa kiệt và gánh trên vai trách nhiệm an toàn quốc gia và dân sinh rất lớn. Vừa qua, một số ý kiến cho rằng, hồ chứa các thủy điện đã vận hành đúng quy trình, nhưng vấn đề là quy trình nào? Không thể xét theo lợi ích cục bộ mà ở đây là vấn đề an toàn dân sinh và an ninh có tầm quốc gia để xem xét một quy trình. Với cách hiểu quy trình như hiện nay, thì nguy cơ thảm họa trên có thể gây ra cho chính các hồ bậc thang thủy điện là rất lớn. Những gì đã xảy ra là bài học cảnh tỉnh và cần được các bên liên quan, các cấp có thẩm quyền xem xét một cách nghiêm túc, cầu thị, khoa học và trách nhiệm trước nhân dân.

Các công trình hạ tầng, nhất là giao thông tiếp tục bị tàn phá nặng nề, mang tính phổ biến và hệ thống. Ðối với các tỉnh miền trung và Tây Nguyên, thiên tai xảy ra thường xuyên, liên tục, chỉ có mức độ khác nhau từng năm. Tổ hợp bão, lũ là thiên tai nặng nề nhất, cho nên khi xây dựng các dự án, công trình ở miền trung phải phù hợp đặc điểm về thiên tai, nhằm bảo đảm sự bền vững cho mỗi dự án, công trình cũng như tổ chức cuộc sống của toàn xã hội.

Các tổ hợp thiên tai diễn ra năm 1999, 2006, 2009 đã cho ta kinh nghiệm và bài học cần rút ra để có giải pháp hợp lý nhất trong chiến lược phòng, chống thiên tai, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này một cách ổn định, bền vững trước yêu cầu của ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

NGUYỄN TY NIÊN         
Nguyên Cục trưởng Ðê điều và PCLB

Theo