Sống lại dòng ký ức trăm năm

Thứ Bảy, 09/03/2019, 01:21:01
 Font Size:     |        Print
 

Một góc Đà Lạt trong sương sớm.

Đô thị trên cao nguyên Lâm Viên, trong dòng chảy lịch sử đất nước, đã trải qua biết bao biến động, thăng trầm. Trải qua bao năm tháng, người dân Đà Lạt đã tạo dựng nên những nét giá trị tinh thần đặc sắc. Người Đà Lạt hôm nay luôn tự hào về thành phố của mình, nơi gắn liền với dấu chân cha ông một thuở, trong hành trình tạo dựng đô thị với muôn vất vả, gian nan...

Ngày đầu năm, anh bạn tôi Nguyễn Vũ Hoàng gọi mời: “Ghé Trung tâm Văn hóa nghệ thuật Lâm Đồng cùng thưởng lãm một vùng ký ức. Chúng tôi đang trưng bày những hiện vật và hình ảnh quý về một thời hình thành đô thị Đà Lạt hồi đầu thế kỷ trước. May mắn, dù đó là những gì ít ỏi còn sót lại, nhưng vô cùng quý giá”.

Chỉ là 1.500 hiện vật, quá ít ỏi khi theo dấu 125 năm lịch sử đô thị.

Đó có thể là chiếc áo nông phu thời đầu thế kỷ trước mà đến giờ cháu con vẫn trân quý lưu giữ. Đó có thể là cây đèn bão mà tiền nhân của một gia đình nông dân nào đó vẫn thường xách ra thăm vườn trong những đêm đất trời nổi cơn mưa gió. Đó có thể là chiếc mâm gỗ mang vào từ cố hương và từng dọn những bữa cơm đạm bạc trong ngôi nhà gỗ thông ven rừng trong những buổi hoàng hôn buốt giá. Một chiếc ấm đun nước hay chiếc nĩa đinh ba. Đó cũng có thể là bộ trang phục bảnh bao đầu tiên của cô cậu thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba sau lớp cha ông mở cuộc khai canh. Là chiếc bình pha cà-phê của nhà ai đó mới nổi lên sau vài mùa rau, hoa được giá; là chiếc máy hát quay tay của những nông dân tập làm thị dân khi văn minh Tây phương du nhập. Ký ức thời gian còn hiển hiện trong bức hoành phi hay bộ án thư sơn son thếp vàng gia tộc nào đó kỳ công mang từ quê cũ miền bắc vào,...

Khó có thể kể hết tên hiện vật, cũng như ghi đầy đủ gốc gác của những gì đã in đậm dấu ấn của một thời đã xa. Chỉ biết rằng, những hiện vật như đang nhẩn nha kể những chuyện buồn vui về một thời lập phố. Điều trân quý là ý tưởng, công sức sưu tầm và việc tổ chức trưng bày của các cán bộ, nhân viên ở Trung tâm Văn hóa nghệ thuật Lâm Đồng. Trân trọng hơn nữa là qua đó biết rằng, người dân ở xứ sở này chưa bao giờ phai nhạt và lãng quên ký ức đô thị, ký ức của chính mình.

Phải chăng, ở đô thị cao nguyên này, có một vùng tâm thức lưu dân?

Ngày đó, những năm mở đầu thế kỷ 20. Trong 19 túp nhà gỗ ven đồi thời “đô thị hoang vu” trong bức ảnh tư liệu ghi thời điểm 1901, người ta nói có khoảng 10 người Việt đã sống ở đó. Họ có mặt trước khi ông kiến trúc sư Ê-nét Ê-brác (Ernest Hébrard) thực hiện đồ án quy hoạch đầu tiên cho Đà Lạt vào năm 1923. Họ có mặt khi nơi này chỉ mới có vài người Âu xách va-li từ phương xa đến. Có thể kể tên ông Pôn Săm-pu-đri (Paul Champoudry), thị trưởng đầu tiên của Đà Lạt, vị thị trưởng không dân. Săm-pu-đri từng là ủy viên Hội đồng thành phố Pa-ri nhưng thất bại trong cuộc bầu cử năm 1896, được Toàn quyền Pôn Đu-me (Paul Doumer) kéo qua Đông Dương và bổ nhiệm làm người đứng đầu vùng đất này với nhiệm vụ tạo dựng một đô thị nghỉ dưỡng. Cùng với ông thị trưởng chỉ có một kế toán, vài hiến binh, một nhân viên thuế quan và bưu điện viên. Gia đình Khâm sứ Trung kỳ đương nhiệm Giăng Ô-véc-nhơ (Jean Auvergne) cũng kịp chiếm một trong những căn nhà đầu tiên trên vùng phố bắt đầu khởi lập hòng làm nơi nghỉ ngơi khi mùa hè miền trung bức bối. Ký vãng về đô thị Đà Lạt hồi đầu thế kỷ trước, là nhớ đến nhà bác học A-lếch-xăng-đrơ Y-éc-xanh (Alexandre Yersin), người khám phá ra vùng đất; nhớ đến những kiến trúc sư lừng danh tạo nên những đồ án quy hoạch qua các thời kỳ như Ê-nét Ê-brác, Lu-i Gioóc-giơ Pi-nô, Giắc La-dít-kết... dù phục vụ cho ý đồ thực dân, nhưng phần nào họ cũng là những người có đóng góp kiến tạo. Nhưng trên tất cả, lịch sử đô thị phải ghi nhớ, nhớ sâu sắc những dấu chân lưu dân người Việt đến từ tứ xứ. Người dân chính là “ký ức nền”, là chủ nhân truyền đời mãi mãi của xứ sở này.

Họ, những người đến từ các huyện Thanh Chương, Đô Lương (Nghệ An), Đức Thọ (Hà Tĩnh) từ năm 1927 rồi lập ấp Nghệ Tĩnh. Trong đình làng Nghệ của con dân xa xứ còn lưu danh các bậc tiền hiền: Nguyễn Thái Hiến, Nghiêm Trang, Phan Văn Lưu, Phan Diệm, Ngô Đức Thận...

Họ, hơn 100 nông phu thuộc tỉnh Hà Đông cũ (gồm các làng bên hồ Tây như Nghi Tàm, Quảng Bá, Vạn Phúc, Tây Tựu, Ngọc Hà, Xuân Tảo) đến Đà Lạt từ năm 1938 đến 1942, lập nên ấp Hà Đông. Dân ấp bây giờ vẫn nhắc những cái tên tiền bối: Ngô Văn Hựu, Ngô Văn Hiện, Ngô Văn Bính, Lý Nhu, Trần Văn Y, Cả Tục, Nguyễn Thị Sinh, Nguyễn Thị Nhớn...

Họ, 11 trai đinh xứ Quảng lên làm phu Sở trà Cầu Đất thuộc Công ty cây trồng nhiệt đới của người Pháp, từ năm 1927 đã xin chính quyền thực dân và chính phủ Nam Triều lập làng Trường Xuân. Cái cớ mà ông Nguyễn Đình Sung, người đứng ra đại diện trình xin cho việc lập làng là “Người Việt Nam có tục thờ cúng ông bà, cha mẹ, tổ tiên nên phải có làng, có đình, có hội...”.

Họ, những người dân xứ Thừa Thiên - Huế đến trong những năm 1930 đến 1940 rồi lập ấp Ánh Sáng.

Và cứ thế, người trước kẻ sau, những lưu dân dù đến với nơi này bằng con đường nào, bởi lý do nào thì họ cũng đã tụ cư thành làng, khai canh, lập vườn, sinh con đẻ cái truyền đời. Từ ấp Nghệ Tĩnh, Hà Đông, Ánh Sáng rồi đến làng Vạn Thành, Thái Phiên. Những phu hỏa xa, đồn điền, lục lộ, những người trốn tránh binh lửa điêu tàn nơi quê xứ cũng lập nên những Cầu Đất, Trạm Hành, Trại Mát, Trại Hầm, Đa Thiện, Xuân Thọ, Sở Lăng...

Họ đã đến và góp phần dựng nên xứ sở này. Tôi cứ mãi hình dung về những kiếp người thuở ấy. Họ đến đất này từ trăm năm trước, bởi những thân phận khác nhau, có người là kẻ bị đày, nhưng nhiều người khác lại là cu li, là phu phen tạp dịch, là nông dân tìm đất mới mưu sinh. Chiếc bồng vải vá víu chứa dăm nắm hạt giống, vài manh khố ôm áo rách, vài đồng chinh xèng. Lại có người gánh làng, gánh xã, gánh nền văn minh lúa nước cổ xưa,... với những niềm hy vọng mong manh về một tương lai tươi sáng. Trong cái lạnh lẽo mùa sương tháng giá, những con người cô hành lưu lạc ấy đã phải chống chọi nỗi nhớ quặn thắt về cố hương, dòng tộc, nhớ ruộng vườn thân thuộc, nhớ cây đa, bến nước, lũy tre làng, dòng sông xứ sở. Đất mới liệu có bao dung khi luôn phải chống chọi với thú dữ, với những trận dịch bệnh kinh người. Đặc biệt, họ phải đối diện sự áp bức, kỳ thị của người phương Tây, những giới chủ thực dân. Dù lịch sử đã bước qua thành phố này hơn một thế kỷ, nhưng vẫn không khỏi xót xa khi đọc lại nội dung mà quyền Thị trưởng Đà Lạt Lê-ông Gác-ni-ê (Léon Garnier) phúc trình lên Khâm sứ Trung kỳ Pi-e Pát-ki-ê (Pierre Pasquier) tháng 3-1924: “Trong chuyến viếng thăm Đà Lạt vừa qua cùng kiến trúc sư Ê-brác, ngài đã trực tiếp nhìn thấy sự cần thiết phải tống khứ những căn nhà của người bản xứ đang nằm ngay vị trí của ngôi chợ tương lai”. Trước đó, người thực hiện đồ án quy hoạch Đà Lạt năm 1919 Ô-niu (O’Neill) cũng đã dành cho dân Việt sự đối xử khinh miệt: “Khu vực bản xứ phải nằm cách xa hẳn khu vực người Âu. Vì thế, địa điểm đã được định sẵn ở ven suối Cam Ly, dưới hạ lưu đập chắn hồ...”. Văn khố lưu trữ đã kể lại thảm kịch vỡ chính con đập này vào tháng 3-1932 làm cho ngôi làng người Việt bị trôi và 17 lưu dân thiệt mạng mà chính quyền thực dân không đoái hoài thương xót...

Ngày đầu năm, dừng chân trước những hiện vật về một thời khởi nguyên lập phố, và suy ngẫm sâu hơn về dấu chân những người Việt đã có công lập đất mà lâu nay lịch sử đô thị Đà Lạt có phần ít đề cập đến.

Thực tế, hơn 100 năm trước, họ gánh vào đất mới những “tên xã, tên làng” rồi tự sưởi ấm tâm hồn, sưởi ấm lòng nhau trong những đêm rừng xưa hoang lạnh bằng nét riêng trong tín ngưỡng tâm linh, phong tục tập quán và văn hóa cổ truyền của quê hương, xứ sở mình. Bởi hoàn cảnh lịch sử, thời đầu thế kỷ trước họ đã sống bên phần rìa đô thị nhưng chính họ đã góp phần không nhỏ làm nên hồn cốt đô thị của Đà Lạt. Có lẽ, chính bước chân tha hương nặng tình cố xứ, cảm thức lưu dân nơi đất lạ đã tạo nên những nét tính cách khác biệt, khác biệt cả phong cách giao tiếp, tạo dựng nên hành vi ứng xử giao hòa thân thiết, gần gũi, sẻ chia của người Đà Lạt trong cả không gian sống và phương thức mưu sinh. Dù lịch sử đất nước trải qua những biến động, thăng trầm, nhưng người dân Đà Lạt thì vẫn luôn giữ vững những giá trị tinh thần đáng yêu, đáng quý này.

UÔNG THÁI BIỂU