Ba lần vào Đảng, một tấm lòng trung

Thứ Ba, 19/05/2015, 09:38:38
 Font Size:     |        Print
 

Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà, Uỷ viên T.Ư Đảng, Phó Bí thư Thành uỷ TP Hồ Chí Minh, bắt tay tri ân ông Lê Cơ nhân họp mặt kỷ niệm 40 năm Ngày miền nam giải phóng.

NDĐT- Ba lần được kết nạp Đảng, hai lần bị đày ra Côn Đảo, người cựu chiến sĩ an ninh ấy một lòng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. 78 tuổi đời, tròn 57 năm tuổi Đảng, lão đồng chí vẫn hằng ngày chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo. Không gia đình, không nhà cửa, nhưng trên môi người đảng viên luôn thường trực nụ cười hạnh phúc.

Năm 1957, để trà trộn vào hàng ngũ của địch, ông “tình nguyện” đi quân dịch và được địch đưa vào Trung đoàn 39, Sư đoàn 13 quân lực Việt Nam Cộng hoà (đóng tại huyện Châu Thành, Tây Ninh). Ngày 8-10-1958, ông được kết nạp Đảng và sinh hoạt trong một chi bộ gồm ba người ngay trong lòng địch.

Theo tài liệu của Ban Binh vận huyện Châu Thành, sau một thời gian, lần lượt ông và hai đồng chí của mình đều được nắm giữ các bộ phận như cơ yếu điện đài, thư ký tổng hợp trung đoàn, trực điện thoại văn phòng. Nhờ vậy, các vị trí chỉ huy tác chiến, số lượng vũ khí, mật khẩu tuần tra hằng đêm, quân số…của địch đều được chi bộ chuyển cho Ban Binh vận.

Ông kể: “Vì một sơ suất nhỏ đã dẫn đến hậu quả lớn. Một lần đi công tác, chi bộ được tặng thưởng tấm ảnh chân dung Bác Hồ. Chúng tôi đã say sưa ngắm Người, chuyền tay ảnh Bác. Không ngờ, cả chi bộ bị an ninh quân đội theo dõi. 19 giờ đêm 12-6-1959, chúng tôi bị bắt và bị tra tấn vô cùng dã man”.

Bị đày ra Côn Đảo, với tài địch vận của mình, ông khôn khéo cảm hoá một số cai ngục và được họ cung cấp bút chì, muối, áo... Đổi lại, ông cho các cai ngục xem ảnh Bác Hồ do chính mình mường tượng ra để vẽ lại. Thế nhưng, bọn chỉ điểm của địch trong tù phát hiện được và để ly gián ông với tổ chức Đảng trong tù, chúng đày ông đi lao động khổ sai ở Sở Tiêu, Lò Vôi rồi đi làm đường ở Cỏ Ống.

Nhớ lại những đòn hành hạ của giặc, ông rơi nước mắt: “Lúc đó, tôi chỉ sống với hình ảnh Bác Hồ ở trong tim. Tôi lấy hoàn cảnh tù đày Bác từng trải qua để tự động viên mình, dùng mẩu viết chì ghi chép lại các bài thuốc đông y được các đảng viên trong tù truyền miệng mỗi khi họp chi bộ vào mặt trong của chiếc áo tù. Khi mãn hạn tù, chiếc áo ấy cũng đầy chữ viết. Nhờ vậy mà biết võ vẽ y học dân tộc để tự trị bệnh cho chính mình”.

Ngày 10-6-1966, ông rời Côn Đảo sau bảy năm tù khổ sai. Vừa vào đất liền, ông đã tìm cách liên lạc với cách mạng và được phân về An ninh vũ trang T4 (sau giải phóng đổi thành Công an TP Hồ Chí Minh). Với nhiều mưu trí trong chiến đấu, tiêu diệt nhiều tên ác ôn, chỉ điểm…, sau một thời gian thử thách, Ban Tổ chức Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định (nay là Ban Tổ chức Thành uỷ TP Hồ Chí Minh) đã ra quyết định kết nạp đảng (lần hai) cho ông vào cuối năm 1967.

Lúc này, ông lại được điều động tập trung phục vụ Chiến dịch Mậu Thân 1968. Ông hồi tưởng: “Ngay trong chiến dịch này, tôi và đơn vị mất liên lạc. Trưa 25-5-1968, tôi đang nằm trong nhà một cơ sở thì tụi cảnh sát ập vào. Thường ngày, súng và tài liệu tôi để bên mình, nhưng hôm ấy lại nhét giữa hai vách nhà. Tụi cảnh sát đánh đập tôi rồi trói đưa về đồn cảnh sát quận 1. Chúng phát hiện ra tôi từng bị đày ra Côn Đảo nên vừa đánh đập, tra tấn rất dã man…

: Ông Lê Cơ (người lết đầu tiên) khi được trao trả năm 1973.

Lại ra Côn Đảo lần hai. Nhưng không còn cảnh lao động khổ sai nữa mà giặc đã biết “tên cộng sản lì lợm” nên “ưu ái” cho ông vào… chuồng cọp và hành hạ, cùm chân ông. Đến nỗi, khi được trao trả sau Hiệp định Paris năm 1973, ông và 123 tù chính trị khác hầu hết bại liệt, chỉ còn lết được từng bước. Nhưng chính những người cộng sản trong địa ngục trần gian đã lấy ông làm tấm gương, tiếp tục chống chào cờ địch, đấu tranh đòi nhân quyền, đòi ăn đúng khẩu phần của người tù…

Ông Nguyễn Văn Phương cũng là một cựu tù đã xác nhận lòng can đảm của ông và khi được Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định phân công theo dõi, thẩm định những người ở tù Côn Đảo về, ông Phương không ngần ngại khi soạn thảo quyết định kết nạp Đảng cho người cựu tù dũng cảm. Đó là ngày 20-12-1974 và cũng là lần thứ ba, ông có quyết định kết nạp vào hàng ngũ những người con ưu tú của cách mạng.

Sau giải phóng, cũng chính anh Tư Phương (ông Nguyễn Văn Phương) tin cậy rút ông về phân công làm Bí thư Đảng uỷ phường 6, quận 8. D sức khoẻ yếu, năm 1985, ông xin về hưu với “cái bằng cấp” thương binh ¾”.

Nói về tuổi Đảng, sau một thời gian dài xác minh, ông đã được “tính lại tuổi Đảng từ ngày được công nhận là đảng viên chính thức (lần một)”. Như vậy,năm nay, ông tròn 57 năm tuổi Đảng.

Cùng đồng đội thăm lại chiến trường xưa.

Ông tâm sự: Tôi chỉ có một thân một mình, sống bằng lương hưu và tiền trợ cấp thương binh mỗi tháng cũng khoảng 4 triệu đồng. Như vậy là hạnh phúc hơn nhiều đồng đội đã không còn sống để chứng kiến hoà bình.

Hiện nay, ông thuê một căn nhà nhỏ lợp tôn ở xã Hoà Phú, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, với giá một triệu đồng/tháng. Phần tiền còn lại, ông mua nhiều vị thuốc nam về sơ chế, phơi khô rồi giúp đỡ bà con nghèo trong vùng chữa bệnh. Người bệnh nào khó khăn quá, ông “bao” luôn bữa cơm đạm bạc và gửi chút tiền xe.

Tấm gương cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cứ tự thấm đẫm vào từng trang đời của ông. Ông vẫn tiếp tục ăn mặc giản dị, sống đạm bạc, chăm lo cho người nghèo.

Giờ đây, bên chiếc bàn gỗ đơn sơ, ông nhớ lại giờ phút đau thương của dân tộc năm 1969. Ông bảo khi ấy, dù cách xa đất liền hàng trăm cây số, dù bị giam cầm trong “chuồng cọp”, những người tù vẫn thể hiện niềm tiếc thương của mình với Bác. Ông ngâm nga lại bài thơ cũ trong niềm xúc động:

Ngày Bác đi xa, chúng con trong ngục tối

Đốt nén hương lòng, xé áo để tang

Biến đau thương bằng cách chống bạo tàn

Trong xiềng xích, một lòng tin Đảng”.

Thế hệ trẻ chúng tôi mãi mãi học tập và làm theo gương Bác Hồ, và học từ những người như ông rất nhiều, phải học mãi. Tên của ông là: Lê Cơ.

Bài và ảnh: DƯƠNG MINH ANH