Hạt giống đỏ cho ước vọng xanh

Thứ Năm, 18/11/2010, 02:35:00
 Font Size:     |        Print

Gập gềnh đường tới lớp

Cậu bé Bàn A Chông (Văn Chấn – Yên Bái) trông nhỏ hơn nhiều so với tuổi của mình và nói giọng Kinh còn “lơ lớ” ngồi cùng đám bạn bên đống lửa đốt giữa căn nhà gần như trống không, dúi thanh củi cho lửa cháy đượm, kể về con đường đi học của mình. Khi con gà chưa cất tiếng gáy, mặt trời chưa ló rạng, A Chông đã phải dậy để còn “vượt đường” đến trường. Nhà ở xa nên nhiều lúc A Chông cũng ngại lắm, cũng muốn ở nhà thôi, mẹ cũng bảo A Chông chẳng cần học cái chữ làm gì nhiều, làm phụ giúp mẹ là được. Nhưng bố A Chông không nghe, bố bảo phải cố kiếm cái chữ thì mới kiếm được cái để làm no bụng được.

Thế là, nhiều hôm mưa rừng khiến con đường đến trường trơn trượt, A Chông cũng cố, có lúc vừa đi vừa khóc. Dù là mùa đông hay mùa hè, quần áo của A Chông cũng ướt sũng vì mồ hôi hoặc lấm lem bùn đất. A Chông thương bố, cũng muốn nhanh có cái chữ nhưng khó quá. A Chông chỉ thích học toán, chứ cái chữ thì nhiều hôm cậu phải đánh vật mãi mới nhớ.  Có lúc A Chông cũng thấy ghét cô giáo vì cô giáo mắng khi cậu chưa ngoan. A Chông không muốn đi học nữa nhưng “cô giáo đến tận nhà, gọi và chở đi học, thế là không ghét nữa”.

Bữa cơm “rặt” hai màu xanh trắng

Một tuần A Chông mới về nhà một lần để thăm nhà, để mẹ, để bố chất cho thêm chút củi hay chút rau rừng, túi gạo nhỏ mang đến trường. Ở trường A Chông nấu cơm cùng các bạn, các anh chị. Hôm nào có rau thì nấu, không có rau thì đi bộ khoảng hai giờ để hái rau về. Thịt là món ăn xa xỉ đối với những học sinh bán trú như A Chông. Bữa ăn của những trẻ như A Chông chỉ toàn điệp khúc, rau xanh, cơm trắng và muối.

Cậu bạn đứng cạnh lí lắc cười khoe món đậu phụ rất “sang” nằm “nổi bật” giữa 20 bếp ăn tự tạo kia là của bạn được mẹ cho tiền mua những cũng hiếm khi lắm. Có bạn nhà nghèo quá còn hì hục giã gừng ăn với muối để thay… rau. Bữa ăn chỉ có vậy nhưng những đứa trẻ sớm tự phải lo cho cuộc sống xa nhà của mình vẫn đầy nụ cười khiến khu bếp được dựng tạm bằng mấy thanh gỗ ọp ẹp, mỏng manh như tỏa sáng. Thế mới thấy, điều bình thường của người này nhưng cũng là hạnh phúc đối với nhiều người khác.

Mỗi phòng bán trú “rộng” 10m2 lỉnh kỉnh đồ đạc của 16 em khiến càng chật chội. Nhưng đó lại là nơi để A Chông cùng các bạn có thể cùng học bài, cùng chia sẻ những lúc nhớ nhà, nhớ mẹ. Thỉnh thoảng các thầy cô ở trường cũng giúp đỡ A Chông và các bạn có hoàn cảnh khó khăn nhưng cũng chẳng thấm vào đâu vì đồng lương giáo viên eo hẹp còn phải lo toan gia đình. Tuy vậy, sự động viên thăm hỏi khi ốm đau của các thầy, các bạn khiến cuộc sống xa nhà của các em học sinh nơi đây vơi bớt phần nào gian khó.

Hiệu trưởng trường THCS Nậm Mười huyện Văn Chấn Vũ Trường Thành cho biết, trước đây khi chưa có mô hình bán trú dân nuôi các thầy cô thường phải đến từng nhà, vận động học sinh đến trường nhưng vì đường đến trường xa quá nên sĩ số các lớp cứ dần “rơi rụng” hết. Mấy năm trước người dân địa phương và các thầy cô đã nghĩ đến việc cần có chỗ cho trẻ vừa học, vừa ở để các em có nhiều thời gian học tập hơn. Thế là, thầy cô và bà con trong các bản làng đã tự nguyện góp một chút của, chút công dựng lên những căn nhà tạm giúp học sinh có chỗ sinh hoạt hàng ngày. Đối với thầy và trò của trường  họ trên cao như Nậm Mười và Sùng Đô có một chỗ “khang trang” thế này để học tập đã là điều hạnh phúc.

Dù cái ăn cái mặc của những trẻ vùng cao trên con đường đi tìm cái chữ còn khó khăn nhưng cái được nhất của giáo dục miền núi suốt những năm qua đó là phụ huynh học sinh đã ý thức được việc con cái cần phải đến trường kiếm tìm con chữ. Đã có nhiều em học hết cấp II, ra tỉnh học nội trú, học đại học về bản góp sức giúp đồng bào thoát nghèo đã khiến người dân ý thức được việc học quan trọng đến nhường nào. Thầy Thành chỉ vào những đứa trẻ gầy gò chạy nhảy cười nói trong sân trường nói, đó là những hạt giống đỏ nuôi mầm những ước mơ xanh - niềm hy vọng của núi rừng Tây Bắc ngày mai đấy.

Ước mơ đi gieo nhiều “con chữ”

Người gieo chữ cho các hạt giống đỏ vùng cao chính là những thầy cô giáo có vẻ ngoài hết sức giản dị nhưng công sức của họ cho dân bản lại chẳng nhỏ chút nào. Tại các bản như Giằng Pằng, Nậm Tộc, Nậm Cài, Nậm Kịp. Nậm Lành…những điểm bản mà chỉ có đồng bào thiểu số mới có thể đến được bởi những bản ấy con đường dẫn lên bản khó khăn vô cùng.

Đường dốc dựng đứng, không có phương tiện nào có thể chinh phục được những cung đường ấy trừ đôi chân con người. Đối với những điểm bản như vậy cơ sở vật chất cho trường học được gọi bằng khái niệm “bản trắng”, không trường, không lớp, không đường, không điện, không học sinh, chuyện cô giáo phải dời điểm trường cuốc bộ lên nương rẫy vận động đồng bào cho con cái họ đến trường là chuyện cơm bữa.

Ấy vậy mà, 15 năm trước, cô giáo trẻ Phùng Thị Tố Uyên đã đến với Nậm Mười với nhiệm vụ “xóa bản trắng” – vùng đất chẳng tin là sẽ có cô giáo đến. Năm năm trước, người dân nơi đây cũng háo hức nghe tin sẽ có cô giáo sắp chuyển đến. Họ góp tiền xây lên một lớp học tạm nhưng cuối cùng không thấy, nhà hư hỏng dần rồi thành chỗ trú chân của trâu của bò. Nhưng quyết tâm đem cái chữ đến cho bà con đồng bào đã giúp cô Uyên vượt qua những khó khăn gian khó của ngày đầu xóa bản trắng. Không có điện, cô dùng ánh sáng của nến, của đèn dầu, của đống lửa nhen giữa nhà để dạy, để soạn giáo án.

Mỗi ngày lên lớp, cô đều đi gọi học sinh từ đầu thôn đến cuối thôn, vận động cha mẹ cho con đi học vì có người không “ưng cái bụng” để cho con đi học vì “cái thóc lúa mới là cái nuôi sống con người còn cái chữ chỉ giúp để nói cái tiếng phổ thông thôi thì không quan trọng mấy”. Năm tháng sau ngày cô đến, lớp học tạm đã ra đời. Cô mừng, trò vui, thôn bản cảm ơn cô giáo. Thế mới thấy, cuộc sống của đồng bào dân tộc tuy rất thiếu thốn nhưng họ muốn có cái chữ. Và đó cũng chính là nguồn động viên giúp cho cô giáo trẻ vượt qua những khó khăn vất vả tưởng như quá sức chịu đựng.

Năm năm sau ngày đầu tiên đi xóa bản trắng, cô Uyên đi học cao đẳng rồi xin về dạy tại xã Sùng Đô. Cán bộ phòng giáo dục huyện ngạc nhiên, “Thử nghĩ xem tại sao chuyển từ vùng khó khăn sang vùng đặc biệt khó khăn. Nhưng mình nghĩ ở đâu cũng là đi làm. Bố mình là người Mường mẹ là người Thái, mình lại nói được tiếng Dao, nên bây giờ muốn tìm hiểu thêm tiếng nói và nét văn hoá của người Mông. Biết trẻ con người Mông nơi đây còn khổ nên mình quyết tâm đi”.

Quên từ lâu “cái hạn vùng cao”

Vào nhận lớp như nhận một đứa trẻ mới sinh ra, vì bất đồng ngôn ngữ nên cô giáo vừa dạy vừa dịch sang tiếng dân tộc để các em có thể hiểu bài giảng hơn. “Những em đi học đầy đủ còn khó có thể hiểu hết bài giảng của cô, còn những em buổi đi, buổi lên nương thì việc học và dạy tiếng phổ thông càng gặp khó khăn. Đa số nhận thức của các em còn chậm nên các cô thường phải đến sớm để kèm thêm cho các em”.  Vất vả là thế, có hôm phải đi chân đất đến lớp nhưng cô Uyên đã quên từ lâu “cái hạn vùng cao” đối với giáo viên. “Mình yêu cuộc sống nơi đây, yêu con trẻ và mình nghĩ chẳng có gì hạnh phúc hơn là được gieo chữ cho đồng bào”.

Trong suốt 15 năm đứng trên bục giảng truyền thụ kiến thức cho các em, cũng giống như thầy cô khác, cô Uyên chưa bao giờ được trò tặng dù chỉ là một bông hoa rừng. Học sinh nơi đây đa phần ngơ ngác không hiểu ngày 20-11 là ngày gì và coi ngày đó như mọi ngày bình thường khác. Nhưng “thật sự chúng tôi sẽ cảm thấy buồn nếu chẳng có học sinh nào đến trường, mà cứ mải miết theo bố mẹ lên nương rẫy để mãi rơi vào cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Chỉ tính mỗi việc hàng ngày những “học sinh đặc biệt” này vượt hai, ba tiếng đường rừng để đến trường tìm con chữ đã là phần thưởng lớn nhất đối với thầy cô rồi. “Và chừng nào còn bản trắng là còn chúng tôi”.

 

Hương Nguyên
Theo: