Làng cổ Phước Tích được công nhận Di tích cấp quốc gia: Mừng nhiều, lo nhiều

Thứ Bảy, 18/09/2010, 02:55:00
 Font Size:     |        Print
 

Bài 1: 

Độc đáo làng di sản Phước Tích  

Lần đầu tiên nhìn thấy Phước Tích, KTS Hoàng Đạo Kính đã lặng người thảng thốt: “Những giá trị của ngôi làng cổ Phước Tích là quá lớn, quá bất ngờ ngoài sự mong đợi. Sự “phát hiện” ngôi làng cổ này tương đương với sự phát hiện phố cổ Hội An vào những năm tám mươi của thế kỷ trước...” 

Làng cổ hơn 500 năm tuổi 

Theo gia phả của Phước Tích thì làng do hầu tước Hoàng Minh Hùng, người ở Cẩm Quyết, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã lập ra từ năm 1470, ngay sau cuộc thân chinh đánh Chiêm Thành lần thứ nhất của Lê Thánh Tông. “Vật chứng” duy nhất còn sót lại cho đến bây giờ là cây thị hơn 500 năm tuổi nằm giữa làng, bên cạnh ngôi miếu cổ thờ thần linh, mà tương truyền đã có từ trước khi lập làng. Đặc biệt, đầu làng có cả miếu thờ Khổng Tử, cuối làng có miếu Đôi, thờ ngài khai canh Hoàng Minh Hùng và ông tổ nghề gốm. 


Nhiều ngôi nhà trên 500 tuổi
nhưng vẫn còn nguyên vẹn.

Có lịch sử hơn 500 năm, lại nằm bên dòng Ô Lâu tuyệt đẹp và chỉ cách trung tâm thành phố Huế hơn 30km, nhưng Phước Tích cứ lặng lẽ với thời gian như vậy cho đến một ngày được KTS Hoàng Đạo Kính cùng các cộng sự “phát hiện” trong một chuyến điền dã về Phước Tích giữa năm 2003. Còn nhớ khi lần đầu tiên nhìn thấy Phước Tích, KTS Hoàng Đạo Kính đã thốt lên: “Những giá trị của ngôi làng cổ Phước Tích là quá lớn, quá bất ngờ ngoài sự mong đợi. Sự “phát hiện” ngôi làng cổ này tương đương với sự phát hiện phố cổ Hội An vào những năm tám mươi của thế kỷ trước. Làng Phước Tích hội đủ các yếu tố cần thiết để xem nó như một làng di sản, đặc biệt độc đáo”.  

Nhận xét trên hơi quá một chút, nhưng không phải là không có cơ sở, khi TT-Huế có rất nhiều “khu” nhà rường cổ nổi tiếng như Kim Long, Nguyệt Biều, Lại Thế, Bàn Môn, Mỹ Lợi…nhưng không nơi nào nhà rường dày đặc và còn vẹn  nguyên nhiều như ở Phước Tích. Những ngôi nhà cổ ở đây được sống trong một ngôi làng cổ có tổ chức, sắp đặt hẳn hoi, định hình trong không gian đường làng, ngõ xóm. Mỗi một ngôi nhà đều có khu vườn rộng rợp bóng đủ loại cây ăn trái, có diện tích chừng 1000 đến 1.500 m2. Chung quanh mỗi ngôi nhà là hàng rào chè tàu, cắt tỉa thẳng tắp, không có nhà nào xây tường rào bằng gạch. Phước Tích có đến ba mươi ngôi nhà cổ, và hơn 2/3 trong số đó được xếp loại đặc biệt quý mà hiếm làng quê nào sánh được. 

Về mặt kỹ thuật chạm khắc, trang trí nhà, ngoài những nét chung của nhà rường truyền thống tại vùng Huế, nhà cổ tại Phước Tích còn có những nét độc đáo, thể hiện sự điêu luyện, tài hoa của bàn tay thợ chạm khắc làng mộc Mỹ Xuyên nổi tiếng bên cạnh. Không chỉ quỹ nhà rường cổ, Phước Tích vẫn còn hội đủ khá vẹn nguyên nhiều giá trị văn hoá khác như: hệ thống các công trình phục vụ tôn giáo tín ngưỡng, phục vụ đời sống văn hoá cộng đồng; các dấu tích của nền văn hoá Chăm cổ còn lưu lại; những thiết chế tổ chức làng Việt… 

Gốm tiến vua


Gốm cổ ở Phước Tích.

Trước khi được biết đến và công nhận là “Làng di sản”, từ hơn 500 năm trước, Phước Tích đã nổi danh khắp kinh thành Huế và miền Trung về nghề gốm, đặc biệt là nghề làm om đất (dùng nấu cơm) tiến vua.

Ông Nguyễn Duy Mai, một trong số ít nghệ nhân làm gốm của Phước Tích còn sót lại cho biết: “Không chỉ có sản phẩm chum, ghè, thạp, thống, niêu, bình vôi... gia dụng tiêu thụ trong dân gian, gốm Phước Tích còn được trưng dụng trong hoàng cung triều Nguyễn với nhiều cổ vật tinh xảo một thuở, đến nay còn được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế”.

Theo lời ông Mai, thời hoàng kim, trong làng có cả thảy 12 lò sấp (nung gốm từ 1.400 -1.600 độ C), lò ngửa (khoảng 600độ C) chẳng bao giờ tắt khói. Sản phẩm làm ra đến đâu, tiêu thụ đến đó. Dưới sông, trên bờ ngược xuôi tấp nập tàu thuyền đưa gốm của làng đến tận Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Quy Nhơn...

Suốt mấy trăm năm tồn tại, gốm là nghề chính nuôi sống người dân Phước Tích, và theo ông Mai thì “bao nhiêu người trong làng học hành đỗ đạt, hàng trăm ngôi nhà rường mà Phước Tích còn giữ được cho đến ngày nay cũng chắt chiu từ gốm”. Tuy nhiên đến những năm 80 của thế kỷ trước, các xâu gốm được qui hoạch, chuyển đổi thành tập đoàn gốm, rồi HTX gốm... Được một thời gian, nghề gốm ở Phước Tích đích thực rơi vào ngõ cụt bởi cơn lốc của hàng gốm tạp và đồ nhựa dân dụng tràn vào thị trường.

Làng cổ Phước Tích còn nổi tiếng là ngôi làng đại thọ. Theo thống kế của UBND xã Phong Hoà, hiện toàn làng Phước Tích chỉ có 115 hộ, hơn 700 khẩu, nhưng có đến 6 cụ trên 90 tuổi, 12 cụ trên 85 tuổi, 7 cụ trên 80 tuổi, 15 người trên 65 tuổi...Hầu hết những cụ sống thọ ở đây đều có sức khoẻ rất tốt, ít đau ốm, ăn uống bình thường, ham thích lao động để “rèn luyện sức khoẻ”.   

Điều đặc biệt là con cháu trong làng Phước Tích học giỏi, đỗ đạt cao và nhiều. Thế nhưng, khi học xong, con cháu của làng lại đi đến nơi khác để cống hiến cái tài trí của mình, chỉ để lại cho làng toàn người già và những ngôi nhà cổ.

Phải chăng vì nơi này chỉ có toàn những người già nên họ biết quý trọng, có ý thức cao trong gìn giữ, níu giữ thời gian, níu giữ những di sản quý báu mà cha ông họ đã bao đời để lại. Cho nên Phước Tích mới còn tồn tại gần như vẹn nguyên cho đến bây giờ, bất chấp sự tàn phá của thời gian, thiên tai, và cả sự cám dỗ của đô thị hoá? Lạ hơn nữa là cho đến nay, cả làng không có một mảnh vườn nào bị xé nhỏ ra để chia chác cho con cháu hoặc đem bán vì lý do này lý do khác như vẫn thường thấy khắp nơi ở TT-Huế. 

Không gian những ngôi nhà cổ hơn 500 tuổi.


 

(Còn nữa)

Tường Minh


Theo:

Chia sẻ