Dọc con đê biển - Kỳ 1: Nơi đầu tiên mở cõi phía biển Đông

Thứ Bảy, 12/03/2011, 09:28:00
 Font Size:     |        Print
 

Những người phụ nữ đảo Hà Nam vất vả bên đê biển. Ảnh: Nhật Trường.
Đất nước ta biển bao ba mặt. Suốt chiều dài trên 3.200km bờ biển Việt Nam, cư dân biển sống nhờ biển nhưng cũng thường xuyên bị thiên tai đe dọa, bởi Việt Nam nằm trong khu vực ổ bão tây bắc Thái Bình Dương, và vùng ven biển đều là các vùng thấp, trũng, xói lở triền miên. Hệ thống đê biển ở nước ta hình thành từ rất sớm, tồn tại như một minh chứng về quá trình bền bỉ chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt của người Việt. Hành trình dọc theo con đê biển các tỉnh duyên hải từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa là câu chuyện dài về làng quê, về số phận những con người, bao đời nay vẫn dũng cảm, chấp nhận rủi ro, sẵn sàng mạo hiểm giữ đê giữ biển cho muôn đời. NDĐT xin giới thiệu loạt bài dài kỳ của ấn phẩm Thời Nay về những câu chuyện ấy.

Đảo Hà Nam (thuộc huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) gồm có tám xã, trên bảy vạn dân. Đê biển Hà Nam dài 36km, bắt đầu từ cầu sông Chanh đến điểm cuối cùng thuộc hai xã LiênVị - Tiền Phong. Bám biển để sống, bám đồng chờ mùa vụ sinh sôi, người dân Hà Nam không nghĩ mình là dân chài xóm đảo, mà lúc nào cũng tự hào với nguồn gốc là người Thăng Long xưa mở cõi về đây.

Chuyện kể hơn sáu trăm năm trước…

Bên con đê bê-tông mới hoàn thiện, ngôi chùa vừa cất xong đượm mùi vôi vữa, vẫn còn đâu đó gạch cát ngổn ngang. Người dân làng Quỳnh Biểu, xã Liên Hoà của đảo Hà Nam mừng vì đã có chùa để dâng hương tế lễ, có đê vững, yên bề làm ăn. “Chẳng còn phải sợ gió to, sóng cả nữa. Ngày xưa, mỗi bận bão về ai cũng lo. Khổ lắm!”. Cụ Trần Thị Lạp, 78 tuổi tay têm trầu, miệng nói.

Mấy cụ bà đang dâng lễ ở chùa, móm mém cười nhờ chúng tôi đọc văn bia. Mời chúng tôi nắm xôi, bát chè, các cụ kể chuyện ngày xưa thuở mới lập làng. Các cụ ai cũng tiếc vì không đọc được chữ nho trên bia đá, không có sắc phong của vua ban để khoe nhưng cứ vanh vách chuyện. Thời Hậu Lê ấy, có 17 vị tiên công trên kinh thành Thăng Long gồm các nho sĩ, thợ thủ công, ngư dân, cày cấy... vâng mệnh nhà vua đưa con cháu đi mở mang bờ cõi, xuôi thuyền qua sông Hồng đến cửa sông Bạch Đằng tìm đất lập nghiệp. Đến đảo Hà Nam bây giờ, các cụ nghe thấy tiếng ếch trong một đêm mưa, dấu hiệu của nơi có nguồn nước ngọt. Thế là ngụ lại trên những gò cao, an cư bằng nghề nông, nghề biển, sinh con đẻ cái, sau dần thành xóm thành làng.

Nhiều người vẫn còn nhớ như in những năm trước, cứ ra Giêng là làng trên xóm dưới của đảo lại rủ nhau đi đắp đê. Thanh niên vai vác đất, miệng hát vui như đi hội. Người làng vẫn truyền khẩu nhau chuyện tế thần của ngày xưa. Đó là ở chỗ cống Vông, cống Quỳnh nơi ráp mối đê. Mỗi đận như vậy, mất công, mất của, nhưng không mất người là không xong. Có những năm bao nhiêu đất đổ xuống đều bị sóng biển cuốn trôi, các cụ trong làng bàn tính, hiến thần bằng một cô gái đồng trinh xinh đẹp. Chuyện rằng có một người con gái hát rất hay, làm say đắm bao chàng trai biển. Năm đó cô 16 tuổi. Cũng vì tiếng hát cất cao trên sóng, trải dài đồng quê khiến người làng mê mẩn. Run rủi thế nào đê đắp xong lại vỡ, cô phải trở thành vật tế thần. Sau màn tế, cô bị ném sống xuống nước, xác mất tích. Từ năm ấy, nhà nào có con gái đẹp cũng lo lắng, có con gái hát hay thành nỗi muộn phiền. Bởi vậy người làng biển chỉ mong sinh được con trai, vừa có người đi biển lại không phải trở thành vật hiến tế. Con gái tuổi dậy thì ra đường thì phải bôi mặt bẩn, xấu.

Thời gian qua đi, nhiều người truyền nhau giai thoại từ nơi tế thần, hằng đêm vẫn có tiếng khóc ai oán, có người trong làng còn nằm mơ về những đoàn thuyền đánh cá bị biển cả chôn vùi ngoài khơi xa. Người làng đảo dựng miếu thờ những linh hồn trôi dạt, vận động nhau góp tiền mua gỗ đóng bè theo sông về biển. Muốn mang được gỗ vào làng phải vượt qua con đê. Không có cách nào khác, đêm đen, họ trốn quan phá đê, dòng gỗ. Địa danh cống Trộm nay vẫn còn. Chẳng biết chuyện thật hay đùa, ông Đặng Đình Nguyễn ở thôn Trung Bản kể như vậy.

Những năm đắng miệng, mặn đồng

Sống bên bờ biển, nơi đầu sóng ngọn gió, người dân trải qua biết bao nỗi lo. Lo cá tôm, lo khơi lộng. Biển hiền hoà, nhiều lúc thảo lòng cho dân chài cá đầy lưới, tôm đầy khoang. Cũng có khi nổi cơn thịnh nộ, vô cớ dâng sóng đánh chìm, thuyền tan, người mất.

Có những cơn bão đi qua thành ký ức hằn sâu. 1955, cái mốc thời gian tạc vào nỗi đau thôn xã. Năm đó, cơn bão lớn khủng khiếp tràn về vào tháng Tám, phá tan con đê biển, nhấn chìm nhà cửa ven đê, cướp đi mạng sống của hơn 400 con người. Nhiều người thạo nước, giỏi bơi đưa người vào trong Quảng Yên trú nhờ. Thoát chết, nhìn về, nước đỏ ngầu, làng chìm trong biển.

Bão tan nước rút, người đảo lại về với đảo. Bùn trắng làng, lợn gà chết, lúa mọc mầm. Không có nhà ở, gạo ăn. Đói khát, tang thương. Gột rửa bùn, thau giếng nước, trang trải ruộng đồng, dựng lại làng từ những đổ nát. Đau, buồn nhưng vẫn bám trụ bên đê, thách thức với sóng gió, thiên nhiên.

Hơn 30 năm sau, nỗi đau cũ dần nguôi ngoai, người sinh ra sau trận lũ lụt đó cũng đã có gia đình, con cái. Đang vui đồng ruộng, chờ ngày ra khơi. Năm 1986, trời trong xanh, đêm trăng sáng, gió khơi xa thổi nhẹ, làng vui. Nhưng không, biển đã phản bội. Từ những cơn gió nhẹ vỗ về mơn man da thịt, đêm biển đánh rầm làng bằng một cơn bão lớn. Gió giật mưa to, nước biển trào dâng mặn chát. Đê lại vỡ. Kinh nghiệm từ 30 năm trước, người làng chạy sớm nên chỉ chết năm người. Bây giờ nhắc lại hai cơn bão, hai lần vỡ đê trước, người đảo Hà Nam còn chưa nguôi nỗi buồn thương.

Đảo Hà Nam, hiện thực giấc mơ mở đất

Sông Chanh tách đảo với đất liền. Ở đây, đi mãi mới ra đến biển, vào đất liền phải qua chuyến đò ngang. Sông Chanh nay đã có cầu, biển đã có đê. Người đảo Hà Nam thêm cơ hội phát triển kinh tế.

Thôn Trung Bản, xã Liên Hoà có 600 hộ dân - là thôn đầu tiên của đảo Hà Nam. Nghề chính của người trong thôn trồng lúa, mỗi năm hai mùa. Đồng chua, nước lợ lúa kém xanh, bông kém vàng.

Đất rộng, người thưa nên tình người cao hơn con sóng. Người làng tùm tụm với nhau như anh em một nhà, khi sáng mai, lúc chiều tối vẫn thường hỏi thăm. Những lúc nông nhàn cũng vác lờ, xách lưới ra biển kiếm tí ti. “Việc làng cũng như việc nhà, có mấy người đâu mà xa cách” - ông Nguyễn Nam Tiến, chủ nhiệm hợp tác xã nói vậy. Giấc mơ dựng làng, khai khẩn đất hoang thành cánh đồng ăn sâu vào tiềm thức. Nay vẫn còn đó giấc mơ xưa. Cánh đồng “bát cơm, bát canh” người đảo vẫn gọi như địa danh quen thuộc. Cồn bãi nghe tiếng ếch năm xưa nay đã thành làng thành xóm. Ngay tại chùa Quỳnh Biểu, vẫn ban thờ thờ hình tượng con ếch.

Mỗi độ xuân về, khôn nguôi nhớ chốn kinh thành, nhớ những hội hè, đình đám... nên các cụ ta đã vời các bô lão tuổi tác cao nhất trong làng xã đóng vua ngồi lên võng đào, lọng che… Lễ hội Tiên Công (còn gọi là lễ Rước Người) thường tổ chức vào ngày Bẩy tháng Giêng để tưởng nhớ chốn kinh thành phồn hoa là như vậy. Và trong sinh hoạt, trong phong tục, trong tính cách người đảo Hà Nam, vẫn đậm đà chất thanh lịch của một mảnh kinh thành Thăng Long xưa.

Vùng Hà Nam (Yên Hưng, Quảng Ninh) rộng hơn 6000ha, nguyên là một bãi phù sa cổ cửa sông, một hòn đảo, có địa hình thấp hơn mực nước biển khi thuỷ triều cường. Quanh đảo Hà Nam và hai phía đông tây vùng Hà Bắc có những bãi triều ngập mặn rộng lớn. Phía Nam giáp huyện Cát Hải, phía Tây giáp huyện Thuỷ Nguyên (Hải Phòng).

Ninh Nguyễn - Trần Khánh
Theo: