Giao lưu trực tuyến về phát triển bền vững bảo hiểm y tế toàn dân

Thứ Sáu, 20/12/2019, 14:11:09

NDĐT- Đúng 14 giờ ngày 20-12, tại trụ sở Báo Nhân Dân, chương trình giao lưu trực tuyến với chủ đề “Phát triển bền vững bảo hiểm y tế toàn dân” do Báo Nhân Dân tổ chức chính thức bắt đầu.

Giao lưu trực tuyến về phát triển bền vững bảo hiểm y tế toàn dân

Tham gia buổi giao lưu có Tiến sĩ Bùi Sỹ Lợi - Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội; bác sĩ Phan Văn Toàn, Phó Vụ trưởng, Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế và ông Nguyễn Tất Thao - Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách BHYT, BHXH Việt Nam.

Phát biểu khai mạc buổi giao lưu, đồng chí Phạm Song Hà, Ủy viên Ban Biên tập, Trưởng Ban Chính trị - Xã hội, Báo Nhân Dân nêu bật những thành quả và tồn tại của chính sách Bảo hiểm y tế trong thời gian qua.

Luật Bảo hiểm y tế ra đời (năm 2008) và đến năm 2013, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 68/2013/QH13 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế , tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Một năm sau đó, năm 2014, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung. Đây là những bước quan trọng trong hệ thống pháp luật về bảo hiểm y tế, là cơ sở pháp lý thể chế hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế công thông qua bảo hiểm y tế toàn dân, thực hiện mục tiêu chăm sóc sức khỏe cho người dân theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.

Khái quát những thành quả nổi bật, đồng chí Phạm Song Hà cho biết, sau 5 năm thực hiện Luật Bảo hiểm y tế, số người tham gia bảo hiểm y tế ở nước ta đã không ngừng tăng lên nhanh chóng, hiện tỷ lệ bao phủ đã đạt 90% dân số. Tính riêng từ năm 2015 đến năm 2019, toàn quốc tăng khoảng 15 triệu người tham gia bảo hiểm y tế. Chất lượng khám, chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế ngày càng được cải thiện, nhiều loại thuốc mới, kỹ thuật, dịch vụ y tế hiện đại khi đưa vào Việt Nam đều nhanh chóng được quỹ bảo hiểm y tế chi trả, tạo điều kiện cho người bệnh tiếp cận thuận lợi, bảo đảm nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia. Chính sách bảo hiểm y tế đã góp phần giảm chi trực tiếp từ tiền túi hộ gia đình cho dịch vụ y tế. Thống kê đến năm 2018, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 37%, góp phần tạo nên sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, nhất là với nhóm người nghèo, cận nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi.

Tuy nhiên chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, hiện tỷ lệ bao phủ đã đạt gần 90%, nhưng để 10% dân số còn lại vận động tham gia bảo hiểm y tế là cực kỳ khó khăn.

Đồng chí Phạm Song Hà cũng chỉ ra rằng, thực tiễn quá trình thực hiện Luật Bảo hiểm y tế vẫn còn một số tồn tại, bất cập trong quy định và tổ chức thực hiện Luật. Đó là, các văn bản hướng dẫn còn thiếu cụ thể, thiếu đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác, gây ra những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý, cũng như tổ chức thực thi pháp luật. Công tác tổ chức thực hiện còn hạn chế do năng lực, cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn phát sinh. Một số vấn đề trọng tâm trong chính sách bảo hiểm y tế cũng cần được nghiên cứu, đánh giá và có các giải pháp phù hợp hơn với thực tiễn như: phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế; quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế; tổ chức khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; phương thức thanh toán chi phí KCB bảo hiểm y tế; công tác giám định; quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế…

Thay mặt Ban Biên tập Báo Nhân Dân, đồng chí Phạm Song Hà mong muốn các đại biểu thảo luận thẳng thắn về những bất cập trong chính sách và thực hiện chính sách bảo hiểm y tế hiện hành, đồng thời gợi mở, đề xuất được những thay đổi để góp thêm ý kiến cho các nhà hoạch định chính sách trong lần sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm y tế tới đây, và cũng để ướng tới mục tiêu cuối cùng là phát triển bền vững bảo hiểm y tế toàn dân.

Bạn đọc Trần Thanh Vân (Cầu Giấy, Hà Nội): Tôi có câu hỏi muốn gửi ông Phan Văn Toàn, Vụ BHYT, Bộ Y tế: Ông có thể cho biết những kết quả nổi bật trong thực hiện Nghị quyết số 68/2013/QH13 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT, tiến tới BHYT toàn dân trong giai đoạn vừa qua?

Ông Phan Văn Toàn, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế): Nghị quyết số 68/2013/QH13 của Quốc hội đã giao chỉ tiêu cho Chính phủ: "Bảo đảm đến năm 2015 đạt ít nhất 75% dân số tham gia BHYT và đến năm 2020 đạt ít nhất 80% dân số tham gia BHYT".

Qua đó, kết quả cụ thể như sau: Năm 2018, toàn quốc có hơn 83,5 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ BHYT là 88,5% dân số, vượt chỉ tiêu Thủ tướng giao tại Quyết định số 1167/QĐ-TTg là 3,3% (vượt chỉ tiêu Nghị quyết số 68/2013/QH13 giao, đến năm 2020 đạt ít nhất 80% dân số tham gia BHYT), trong đó đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình đạt 15,7 triệu người, tăng gần một triệu người so với năm 2017 (tương đương tăng 6,3%).

Năm 2019, toàn quốc ước có khoảng 85,2 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ BHYT là 89,8% dân số, vượt chỉ tiêu Thủ tướng giao tại Quyết định số 1167/QĐ-TTg là 1,7% (vượt chỉ tiêu Nghị quyết số 68/2013/QH13 giao, đến năm 2020 đạt ít nhất 80% dân số tham gia BHYT).

MC: Bạn đọc Lưu Hà Anh (Đông Triều, Quảng Ninh) có câu hỏi đối với ông Bùi Sỹ Lợi: Ông có bình luận gì về kết quả thực hiện Nghị quyết 68. Với những kết quả đạt được về diện bao phủ, công tác tổ chức thực hiện BHYT đã có nền tảng tương đối vững chắc. Dưới góc nhìn của đại biểu Quốc hội, qua thực tế giám sát ở các địa phương, ông có cho rằng tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 90% đã đi vào thực chất?



Ông Bùi Sỹ Lợi: Có thể nói Nghị quyết 68 của Quốc hội đáp ứng được yêu cầu hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội của chúng ta, trong đó bảo hiểm y tế được coi là một trụ cột quan trọng. Số liệu của đại diện bên y tế cho thấy là rất đúng. Hiện nay, chưa có lúc nào tỷ lệ bao phủ toàn dân tới 90% tham gia bảo hiểm y tế, đó là một tỷ lệ thành công lớn, là mục tiêu mà chúng ta phấn đấu để đạt được, hướng tới mục tiêu chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân.

Số liệu khẳng định là như vậy, nhưng qua giám sát, chúng tôi thấy tình hình này diễn ra ở khắp đất nước. Điều rất may là cách đây khoảng 5-10 năm, tỷ trọng này rất khác nhau giữa các địa phương, ngay cả ở những địa phương gần sát Hà Nội, như Nam Định năm 2012 mới đạt được khoảng hơn 40%, chưa được 50%. Nhưng đến nay, rất mừng tỷ lệ này bao phủ đồng đều trên toàn quốc, tức là diện bao phủ rất lớn.

MC: Vậy thưa ông, có vấn đề gì đáng chú ý khi thực hiện chính sách BHYT ở cơ sở?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Vâng, qua giám sát, chúng tôi lưu ý mấy điểm như sau. Thứ nhất là số lượng tăng, độ bao phủ tới 90%, nhưng vấn đề quan trọng là trong 90% dân số được bao phủ bởi bảo hiểm y tế, số lượng người dân được Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách chiếm tỷ trọng rất cao, chiếm tới hơn 60%. Điều này nghĩa là, ngân sách chi cho bảo hiểm y tế vẫn rất lớn. Rõ ràng, quỹ của chúng ta đang phụ thuộc rất nhiều vào ngân sách.

Thứ hai là, việc phát triển chính sách bảo hiểm y tế và công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng chưa đồng đều giữa các vùng miền. Một số vùng, miền điều kiện kinh tế xã hội khó khăn như miền núi, vùng sâu, vùng xa thì việc chăm sóc sức khỏe vẫn chưa đạt yêu cầu. Người dân được tham gia, nhưng dịch vụ y tế cho vùng sâu, vùng xa vẫn chưa đạt yêu cầu, dẫn đến có sự chênh lệch về hưởng lợi của dịch vụ bảo hiểm y tế đối với người dân ở các vùng miền. Có những lúc, chúng ta phải báo động rằng, người nghèo đang tham gia bảo hiểm y tế để tạo cơ hội cho người có điều kiện và người ở vùng đồng bằng được hưởng lợi bảo hiểm y tế cao hơn.

Cuối cùng, mặc dù tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 90%, nhưng chúng ta vẫn có tới 10% chưa tham gia bảo hiểm y tế. 10% này mới là điều đáng lưu ý. Hộ gia đình, người có thu nhập cao, người hoàn toàn có khả năng tham gia bảo hiểm y tế để làm cho quỹ bảo hiểm y tế tăng lên nhưng chưa tham gia, mà chủ yếu họ tham gia bảo hiểm y tế thương mại, hoặc một bộ phận dân có đời sống cao lại khám chữa bệnh ở nước ngoài. Điều này thể hiện quan điểm chung là bao phủ toàn dân, nhưng bộ phận cần tham gia để cho nguồn quỹ tăng lên, bảo đảm công bằng xã hội lại hạn chế. Chúng ta phải nhanh chóng có giải pháp khắc phục.

* MC: Câu hỏi của bạn đọc Vũ Thu Minh (Thành phố Hải Dương) gửi tới chương trình, xin được gửi ông Phan Văn Toàn, Phó Vụ trưởng Vụ BHYT, Bộ Y tế: Ông đánh giá thế nào về tốc độ tăng trưởng của diện bao phủ BHYT. Điều gì đã tạo động lực cho công tác phát triển diện bao phủ BHYT giai đoạn từ 2013 đến nay? Số địa phương có tỷ lệ bao phủ BHYT trên 90% dân số rơi chủ yếu vào các địa bàn nào? Còn các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, tỷ lệ này ra sao?

Ông Phan Văn Toàn: Từ năm 2013 và đặc biệt là năm 2015, khi Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 cũng tạo động lực để phát triển độ bao phủ của bảo hiểm y tế. Đó là Luật quy định bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế.

Thứ hai là động lực của Nghị quyết 68 của Quốc hội đã tạo cả hệ thống chính trị vào cuộc thúc đẩy sự tham gia của bảo hiểm y tế. Người dân được tuyên truyền về chính sách của bảo hiểm y tế đã ngày càng thấy được lợi ích của bảo hiểm y tế cùng an sinh xã hội. Đặc biệt, sự quyết liệt trong triển khai thực hiện của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, của hệ thống cơ quan bảo hiểm xã hội từ Trung ương đến địa phương.

Bên cạnh đó, việc điều chỉnh giá bảo hiểm y tế cũng góp phần thúc đẩy sự tham gia của bảo hiểm y tế. Khi giá dịch vụ y tế dần tiến tới tính đúng, tính đủ thì chi phí cho một lần khám, cho một đợt điều trị nội trú tăng lên khá cao. Do đó, người dân thấy rằng, nếu không tham gia bảo hiểm y tế, khi bị ốm đau bệnh tật, chi phí khá lớn so với trước đây. Thực chất, trước đây Nhà nước đang bao cấp bảo hiểm y tế, còn bây giờ, tiến tới không bao cấp nữa. Bây giờ, việc đóng góp đó cũng góp phần nâng cao tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của người dân.

Khu vực bao phủ có tỷ lệ cao tập trung chủ yếu vùng trung du, miền núi phía bắc, một số vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lý do là, khu vực này tỷ lệ bao phủ cao như ông Bùi Sỹ Lợi đã nói, chủ yếu từ ngân sách Nhà nước. Đặc biệt, các tỉnh nghèo, tỉnh miền núi vùng sâu, vùng xa gần như 100% đã có tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trên 90% . Cá biệt, có nơi đến 98%, 99%, bởi vì ở đó chủ yếu là người nghèo, người dân tộc thiểu số, ngân sách Nhà nước mua bảo hiểm y tế cho họ thì tỷ lệ bao phủ rất cao. Thí dụ như Bắc Kạn, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hòa Bình, Kon Tum, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Sóc Trăng, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái là các tỉnh gần đạt bao phủ bảo hiểm y tế 100%.

*MC: Bạn đọc Vương Thảo (Vũ Thư, Thái Bình) hỏi: Theo các vị khách mời, thế nào là phát triển “bền vững” BHYT tại Việt Nam? Chúng tôi xin kính mời ông Bùi Sỹ Lợi.

Ông Bùi Sỹ Lợi:

Phát triển BHYT bền vững phải thỏa mãn được hai yêu cầu rất cơ bản. Một là, phải bao phủ đến mọi người, hay còn gọi là BHYT toàn dân, để không ai phải đi khám, chữa bệnh mà không có BHYT. Thứ hai là, phải bảo đảm bền vững về tài chính. Đây là vấn đề rất quan trọng, có thể thấy độ bao phủ thì lớn, nhưng nguy cơ “vỡ quỹ” lại cao, bởi thực trạng hiện nay đang là “đóng thì ít, hưởng thì nhiều”, cùng chia sẻ lại thấp, thậm chí là không có. Điều này không làm cho chính sách BHYT trở nên bền vững được. Hai yếu tố này, chúng ta đều phải đặc biệt quan tâm.

Vấn đề quan trọng là, tỷ lệ bao phủ 10% còn lại, chúng ta cần tập trung vận động, tuyên truyền, làm sao để đối tượng này có thể tham gia vào hệ thống BHYT của cả nước, điều đó sẽ giúp nguồn quỹ tăng lên. Thứ hai là, mức đóng hiện nay của chúng ta đang là 4,5%; nhưng Luật cho phép là 6%, chúng ta hoàn toàn có dư địa. Nhưng nếu tăng nhanh, cũng sẽ gây áp lực cho người dân, cho doanh nghiệp, vì vậy cần có lộ trình và không thể nâng ngay lên được. Quan trọng là, phải sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả.

MC: Liên quan vấn đề này, có câu hỏi: Cần làm thế nào để có sự cân bằng giữa việc đạt mục tiêu về độ bao phủ BHYT, vừa bảo đảm quyền lợi người tham gia, đồng thời bảo đảm sự an toàn của nguồn quỹ?

Ông Bùi Sỹ Lợi:

Tôi xin nói rằng, trước năm 2015, chúng ta thấy có hiện tượng trục lợi, lạm dụng quỹ BHYT, và chúng ta sử dụng chưa có hiệu quả quỹ BHYT. Sau đó, chúng ta đã điều chỉnh được chính sách này, tránh được sự lạm dụng, trục lợi dẫn đến chất lượng phục vụ kém đi. Trong những năm vừa qua, vì sao quy mô, tốc độ bao phủ tăng nhanh. Đó là vì chất lượng khám, chữa bệnh đang từng bước được nâng cao. Ở đây, tôi đánh giá rất cao sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ Y tế, chúng ta thay đổi được thủ tục hành chính, tinh thần, thái độ của cán bộ ngành y tế, của y, bác sĩ, người lao động trong ngành.

Một điều đáng khen nữa là, BHXH Việt Nam cùng với ngành y tế đã thực hiện tốt quá trình công nghệ thông tin để chúng ta kiểm soát, theo dõi và cập nhật được tình hình ở các cơ sở khám, chữa bệnh.

Tôi phải nói rằng, trong chừng mực nào đó, cần đánh giá cao sự phát triển của hệ thống y tế tư nhân, dù còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn, nhưng đã dần trở thành đối trọng để các cơ sở y tế công lập cũng phải quyết tâm đổi mới, cải cách thủ tục hành chính và thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân tốt hơn. Điều cuối cùng, chúng ta phải đánh giá sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chỉ tiêu bao phủ BHYT là Hội đồng nhân dân các địa phương đều giao chỉ tiêu để tổ chức triển khai thực hiện từ xã, huyện, quận, thị xã, thành phố đến Trung ương. Các khâu kiểm tra, giám sát, đánh giá làm rất tốt, tôi cho rằng, đây là yếu tố rất quan trọng để phát triển BHYT bền vững.

Sự bền vững quan trọng nhất của BHYT là phải bảo đảm sức khỏe tốt nhất, sự hài lòng tốt nhất trong nhân dân, cũng chính là đã tạo cơ hội để những đối tượng chưa tham gia BHYT sẽ tham gia vào hệ thống. Muốn vậy, phải thực hiện cơ chế tài chính y tế rất công minh và hiệu quả, giúp cho hệ thống BHYT bền vững hơn.

MC: Bạn đọc Nguyễn Văn Phi, (Tân Yên, Bắc Giang): Hiện nay, tình trạng lạm dụng, sử dụng quá mức cần thiết dịch vụ y tế - thậm chí là trục lợi BHYT vẫn đã và tiếp tục là một thách thức. Ông có thể nêu một số hình thức lạm dụng dịch vụ y tế đã được cơ quan BHXH phát hiện trong thời gian qua? Xin mời ông Nguyễn Tất Thao.

Ông Nguyễn Tất Thao: Như anh Bùi Sỹ Lợi đã nói, thời gian qua chất lượng bảo hiểm y tế (BHYT) được cải thiện rất nhiều và đang từng bước được nâng lên, bảo đảm chất lượng phục vụ cho người có thẻ BHYT đến khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tốt nêu trên, thì vẫn còn một số tình trạng lạm dụng, sử dụng quá mức cần thiết dịch vụ y tế, thậm chí là trục lợi quỹ khám, chữa bệnh (KCB) BHYT trong thời gian qua đã được cơ quan BHXH phát hiện và đã thông báo cho Bộ Y tế. Các hình thức chủ yếu trục lợi quỹ BHYT được cơ quan BHXH phát hiện từ các cơ sở y tế và người bệnh như sau:

Từ phía cơ sở y tế:
Lợi dụng KCB nhân đạo, tổ chức các cuộc hội thảo, chi trả hoa hồng, chi trả chi phí vận chuyển … để lôi kéo người bệnh đến cơ sở KCB để cung ứng dịch vụ kỹ thuật không cần thiết gây lãng phí quỹ BHYT;
Một số cơ sở KCB tổ chức tuyên truyền, bố trí xe đưa đón các đối tượng có thẻ BHYT thuộc đối tượng người nghèo (HN), dân tộc thiểu số (DT), có mã nơi sinh sống là K1, K2 (là những đối tượng tự đi KCB không đúng tuyến vẫn được hưởng 100% chi phí khi điều trị nội trú tại các tuyến mà không cần giấy chuyển tuyến) về bệnh viện KCB, không căn cứ vào tình trạng bệnh tật của người bệnh.
Bệnh viện đa khoa tư nhân ACA Bỉm Sơn, Thanh Hóa cấu kết với cô giáo của Trường tiểu học Nga Trung, huyện Nga Sơn lấy thẻ BHYT của học sinh lập hồ sơ, chứng từ KCB BHYT khống để thanh toán với cơ quan BHXH;

Tình trạng thống kê thanh toán không dịch vụ kỹ thuật của một số cơ sở KCB; thống kê thanh toán tiền hội chẩn để chuyển tuyến ...
Tình trạng chỉ định xét nghiệm quá mức cần thiết tại Bệnh viện Da liễu TP Hồ Chí Minh mà báo chí đã phản ảnh;
Cung cấp DV ko bảo đảm kỹ thuật, như vụ cắt đôi que thử HIV tại Bệnh viện Xanh Pôn mới bị phát hiện vừa qua.

Từ phía người bệnh:
Người tham gia BHYT đi KCB nhiều lần trong tháng, nhiều nơi trong ngày. BHXH Việt Nam đã có thống kê thường xuyên đối với các trường hợp này trên Hệ thống giám sát, thông báo đến các tỉnh để kiểm tra, ngăn ngừa tình trạng lạm dụng này (trong 11 tháng của năm 2019 có 158 ca đi khám bệnh từ 150 lần - 295 lần/ tháng trở lên, tương đương từ 13 - 27 ngày đi khám bệnh/ một tháng, số liệu này đã loại trừ các trường hợp mắc bệnh mãn tính phải sử dụng nhiều DV kỹ thuật thường xuyên như bệnh nhân suy thận phải chạy thận chu kỳ
Tình trạng gian lận trong sử dụng thẻ BHYT: thí dụ có trường hợp phát hiện người đã chết vẫn đi KCB, là do tình trạng cơ sở KCB sử dụng thẻ BHYT của người đã chết lập hồ sơ thanh toán khống; có trường hợp đi mổ mắt thứ ba, người đã bị cắt cổ tử cung vẫn đi đẻ… Đấy là do bị mượn thẻ, lạm dụng thẻ BHYT.

MC: Bạn Nguyễn Thu Hà (Mai Dịch, Hà Nội) có hỏi mô hình bác sĩ gia đình tại sao chưa được nhân rộng và phổ biến hơn? Nguyên nhân có phải do còn khó khăn gì, hoặc chất lượng khám chữa bệnh của dịch vụ này chưa cao? Xin mời ông Phan Văn Toàn giải đáp.

Ông Phan Văn Toàn: Ngày 22-5-2016, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 16/2016/TT-BYT hướng dẫn thí điểm về bác sĩ gia đình và phòng khám bác sĩ gia đình. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng hướng dẫn các tỉnh, thành phố thí điểm trong hình thành, triển khai hoạt động bác sĩ gia đình trên địa bàn.

Đây là vấn đề mới mà thế giới đã thực hiện, phải bắt đầu từ đào tạo nhân lực. Hiện nay, ở một số nước, trong đào tạo của trường Y có đào tạo bác sĩ gia đình rất bài bản và thậm chí còn yêu cầu cao hơn các chuyên ngành bác sĩ khác.

Ở Việt Nam mới triển khai bắt đầu từ năm 2017. Sau ba năm thực hiện, Bộ Y tế đang tổ chức đánh giá để nhân rộng mô hình trong thời gian tới.

Về nguyên lý y học gia đình, đây là một xu thế, mọi người dân đều được quản lý và chăm sóc sức khỏe thông qua bác sĩ gia đình. Ở các nước, bác sĩ gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng. Bệnh nhân gần như không khám ngoại trú ở bệnh viện mà thực hiện qua bác sĩ gia đình. Mà bác sĩ gia đình có quyền khám và sàng lọc những trường hợp nào phải đến bệnh viện. Bệnh nhân nào khám chữa bệnh trực tiếp tại bệnh viện, mà không thông qua bác sĩ gia đình thì phải tự chi trả tiền túi với số lượng khá lớn.

Tại sao Bộ Y tế lại chưa triển khai nhân rộng mô hình bác sĩ gia đình, đó là vì lý do nhân lực. Nhân lực thực hiện bác sĩ gia đình, không đơn giản như một số người nghĩ: cứ đến nhà khám là được gọi là bác sĩ gia đình. Mà ở đây, bác sĩ gia đình phải quản lý sức khỏe cho người dân. Mỗi người dân đều có một hồ sơ quản lý sức khỏe, được chăm sóc, được giới thiệu đi khám chữa bệnh thông qua bác sĩ gia đình. Trong thời gian tới, cùng với việc đào tạo, tổ chức hệ thống, chúng ta sẽ nhân rộng mô hình này.

MC: Một bạn đọc cũng muốn hỏi thêm, chính sách BHYT hiện đã hỗ trợ gì cho mô hình bác sĩ gia đình, thưa ông?

Ông Phan Văn Toàn: Về quyền lợi bảo hiểm y tế, chúng ta đang thực hiện nguyên lý bác sĩ gia đình là ở trạm y tế xã. Có theo nguyên lý bác sĩ gia đình hay không thì người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế vẫn được hưởng, được chi trả 100% chi phí.

MC: Câu hỏi tiếp cũng dành cho ông Phan Văn Toàn: Tham gia BHYT không chỉ là quyền lợi, còn là nghĩa vụ. Vậy với hệ thống văn bản pháp luật về BHYT hiện nay, điều này đã được thể hiện đầy đủ chưa? Vì sao?

Ông Phan Văn Toàn: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế được ban hành năm 2014 có giao cho Bộ Y tế hướng dẫn một số nội dung, một số điều. Đây là Luật mà Nghị định và Thông tư hướng dẫn có hiệu lực cùng thời điểm với hiệu lực của Luật. Về mặt thời gian, như vậy đáp ứng rất tốt.

Còn về việc các văn bản hướng dẫn đủ hay chưa, đã có ba Nghị định được ban hành; hai Thông tư liên tịch của Bộ Y tế, Bộ Tài chính; mười Thông tư của Bộ Y tế, các Thông tư của các Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, quy trình chuyên môn trong KCB. Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành các quyết định, các văn bản hướng dẫn về: mẫu thẻ BHYT, quy trình giám định BHYT, quản lý thu BHYT, hệ thống thông tin giám định BHYT, thanh tra đóng BHYT, kiểm tra BHYT, thanh toán chi phí khám chữa bệnh, các biểu mẫu… hướng dẫn rất đầy đủ các nội dung, các quy định mà Luật Bảo hiểm y tế giao cho Chính phủ hoặc giao cho các bộ, ngành hướng dẫn.

Tuy nhiên, ở đây có một nội dung về phương thức thanh toán đang nợ. Luật Bảo hiểm y tế quy định có ba phương thức thanh toán, nhưng ở năm 2019 này, cũng chỉ thanh toán theo phương thức giá dịch vụ. Còn thanh toán theo định suất và theo trường hợp bệnh thì đang trong thời gian nghiên cứu. Đánh giá Luật BHYT vừa rồi, chúng tôi cũng đánh giá đầy đủ về nội dung này, như cần phải đưa vào Luật rất cụ thể. Thí dụ, giao theo định suất trường hợp bệnh mà Bộ Y tế hướng dẫn thì phải có thời hạn. Thí dụ, trong Nghị quyết 68 giao cho Bộ Y tế phải ban hành gói dịch vụ y tế cơ bản phải xong trước năm 2018. Nghị quyết ban hành năm 2013 mà giao năm 2018, nhưng Bộ Y tế đã xong trước vào năm 2017. Mặc dù triển khai thực hiện trong thực tế cũng chưa đáp ứng được như kỳ vọng trước đó, và vẫn còn thiếu nội dung thanh toán theo định suất và theo trường hợp bệnh.

MC: Câu hỏi sau đây chúng tôi xin dành cho ông Bùi Sỹ Lợi: Bạn Bùi Vân Hà (Yên Mỹ, Hưng Yên) hỏi: Ông có nhận định gì khi nhìn vào cơ cấu tham gia BHYT hiện nay, khi có nhận xét: “Tỷ lệ số được ngân sách nhà nước đóng BHYT vẫn chiếm tỷ trọng cao. Tỷ lệ tham gia của nhóm được hỗ trợ như hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên … chưa ổn định. Các doanh nghiệp vẫn trốn đóng, chậm đóng tương đối phổ biến. Giải pháp nào để cải thiện tình trạng này trong thời gian tới?

Ông Bùi Sỹ Lợi:

Đây là một nhận xét rất chính xác của người dân, rõ ràng cơ cấu tham gia vào BHYT tập trung chủ yếu vào hộ nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, học sinh, sinh viên. Chính vì vậy, ngân sách phải chi đến 40%. Điều cần thiết là, những người có mức lương cao, hộ gia đình những người kinh doanh tự do và những người có thu nhập cao tham gia vào quỹ BHYT, thì quỹ mới ổn định.

Rõ ràng, nếu như cơ cấu thế này, chính sách BHYT sẽ không thể khẳng định rằng đó là chính sách bền vững về quỹ. Cho nên, cách thức, giải pháp phải tập trung để khai thác tuyên truyền để coi chính sách của BHYT là chính sách nhân đạo.

Chính sách không phải là có đóng có hưởng mà đây là chính sách cùng chia sẻ, tức là đóng để phòng ngừa, hoặc người tham gia đóng lúc khỏe để hỗ trợ người yếu, để sử dụng quỹ đó thì mới bảo đảm được, vì đây là chia sẻ.

MC: Vậy ông có nhận định gì về mục tiêu hướng tới nền tảng vững chắc để thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong thời gian tới?

Rõ ràng, với mong muốn những người có thu nhập cao đóng góp và hạn chế dần những người mà ngân sách phải hỗ trợ, mà cách thức của chúng ta đang đi theo hướng đó. Vì tỷ lệ hộ nghèo giảm dần đi thì chính sách của Nhà nước sẽ không phải hỗ trợ.

Dần dần hiện nay, tỷ lệ hỗ trợ của 70% nhà nước phải hỗ trợ giờ giảm dần xuống 60%, và giờ là 40%. Rõ ràng, điều này đang đi theo quy luật hướng tới chính sách BHYT bền vững hơn, đó chính là mục tiêu quan trọng của chúng ta.

MC: Bạn đọc Nguyễn Trung (Thành phố Bắc Giang) gửi câu hỏi: Thời gian qua, có thể coi là bước tiến mới trong hiện đại hóa công tác giám định BHYT. Các chuyên gia có thể cho biết một số thông tin về vấn đề này? Chúng tôi xin kính mời ông Nguyễn Tất Thao trả lời.

Ông Nguyễn Tất Thao:

Có thể nói, năm 2016 là thời điểm cơ quan BHXH Việt Nam có bước tiến quan trọng trong hiện đại hóa công tác giám định. Đó là Hệ thống thông tin giám định BHYT. Sau hơn hai năm xây dựng bổ sung và triển khai, Hệ thống thông tin giám định BHYT có 192 chức năng thuộc 12 quy trình nghiệp vụ. Các chức năng chính của Hệ thống đó là:

a) Cổng tiếp nhận hiện kết nối liên thông dữ liệu với hơn 12 nghìn cơ sở KCB từ xã đến Trung ương với các chức năng: (1) Tra cứu thông tin thẻ BHYT; (2) Lịch sử điều trị trong sáu lần gần nhất của người bệnh; (3) Lập và gửi danh mục sử dụng cho người bệnh, danh mục phục vụ công tác giám định BHYT; (4) Tiếp nhận kết quả giám định danh mục, giám định hồ sơ đề nghị thanh toán; (5) Nhập chỉ định điều trị, lập hồ sơ thanh toán với người bệnh và cơ quan BHXH.

b) Phần mềm giám định thuộc các quy trình giám định như giám định danh mục thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật; quản lý danh mục cơ sở KCB; giám định tự động; giám định chủ động; giám định theo tỷ lệ …

c) Phần mềm giám sát cung cấp các chức năng theo dõi, thống kê cảnh báo KCB nhiều lần, chi phí gia tăng bất thường …

Như vậy, với việc ứng dụng Hệ thống thông tin giám định BHYT và triển khai giám định trên dữ liệu điện tử, năm 2017, các đơn vị nghiệp vụ của BHXH Việt Nam và BHXH các tỉnh đã từ chối hoặc chưa chấp nhận thanh toán của năm 2017 là 4.896,8 tỷ đồng; năm 2018 là 4.254,8 tỷ đồng.

MC: Bạn đọc Lương Minh Anh (Sóc Sơn, Hà Nội) hỏi: Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 68, một trong những khó khăn là mục tiêu “đến năm 2020, hoàn thiện việc đầu tư trạm y tế xã ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn” vẫn còn vướng mắc trong thực hiện. Vậy đầu tư cho các trạm y tế xã về cả nhân lực và trang, thiết bị đã có những kết quả bước đầu ra sao? Xin mời ông Phan Văn Toàn.

Ông Phan Văn Toàn: Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 68, Thủ tướng Chính phủ đã rất quan tâm và có Quyết định số 2348/QĐ-TTg ngày 5-12-2016 phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở.

Thực hiện Quyết định số 2348 của Thủ tưởng Chính phủ, Bộ Y tế đã xây dựng Chương trình hành động số 1379/CTr-BYT thực hiện Đề án Xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới theo Quyết định số 2348/QĐ-TTg ngày 5-12- 2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, ban hành Hướng dẫn số 1383/HD-BYT ngày 19-12-2017 của Bộ Y tế thực hiện Mô hình điểm tại 26 trạm y tế xã, phường, thị trấn để nhân rộng trong toàn quốc, làm cơ sở để các địa phương đầu tư để các trạm y tế xã hoạt động theo nguyên lý y học gia đình để bảo đảm y tế ở cấp cơ sở.

Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, việc đầu tư cho các cơ sở y tế nói chung, các trạm y tế xã vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, ngân sách trung ương chỉ mang tính hỗ trợ. Thời gian vừa qua, các địa phương đã quan tâm đầu tư cho trạm y tế xã, cụ thể:

Thứ nhất, nhiều địa phương đã ưu tiên sử dụng ngân sách địa phương, nguồn xổ số kiến thiết để đầu tư xây dựng, nâng cấp các trạm y tế xã như: TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long An, Lâm Đồng, Vĩnh Phúc, Hà Nội…

Thứ hai, phần lớn các địa phương đã dành một phần vốn và đưa trạm y tế xã là đối tượng được đầu tư từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, như vận động các tổ chức, cá nhân đầu tư trạm y tế xã.

Thứ ba, một số địa phương như Yên Bái, Thái Nguyên, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Cà Mau, Vĩnh Long đã vận động và được Tổ chức phi Chính phủ Atlantic Philanthropies (AP) - Mỹ hỗ trợ, đầu tư khoảng 940 trạm y tế xã.

Thứ tư, Chính phủ đã cho phép Bộ Y tế triển khai một số dự án ODA để hỗ trợ đầu tư cho các trạm y tế xã vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn như: Dự án chăm sóc sức khỏe nhân dân các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2 vay vốn ADB đầu tư xây dựng mới, sửa chữa 58 trạm y tế xã cho ba tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Nông, Kon Tum); Dự án hỗ trợ hệ thống y tế do Quỹ toàn cầu viện trợ không hoàn lại, đầu tư trang thiết bị cho các trạm y tế xã 15 tỉnh miền núi phía bắc, tỉnh nghèo, tỉnh có tỷ lệ mắc lao, HIV/AIDS cao; Bộ Y tế đã dành một phần ngân sách của Chương trình hỗ trợ ngân sách ngành do Liên hiệp châu Âu (EU) viện trợ không hoàn lại để xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp 395 trạm y tế xã vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn. Dự án Giáo dục và Đào tạo Nhân lực Y tế phục vụ cải cách hệ thống Y tế (HPET) có đào tạo, đầu tư một số trang thiết bị cho tuyến xã.

MC: Vậy, thưa ông, chất lượng phục vụ của các trạm y tế xã đã và cần được cải thiện như thế nào?

Ông Phan Văn Toàn: Từ kết quả thực hiện, chất lượng KCB tại TYT xã đang ngày càng được nâng lên. Có thể thấy y tế cơ sở đang được tập trung đầu tư trong thời gian vừa qua. Theo cơ chế hiện nay, tuyến trung ương và tuyến tỉnh thì hầu như đã tự chủ và Nhà nước không phải đầu tư nhiều. Còn ở cấp cơ sở, nguồn thu BHYT và các nguồn thu khác rất khó để bảo đảm công tác tự chủ, chính vì vậy, Chính phủ và Bộ Y tế rất tập trung đầu tư cho y tế cấp cơ sở. Đồng thời học tập mô hình trên thế giới, kết hợp theo nguyên lý bác sĩ gia đình để chăm sóc sức khỏe cho người dân ngay tại địa điểm gần nơi cư trú, tiến tới mỗi cá nhân sẽ có một hồ sơ khám sức khỏe riêng ở trạm y tế xã. Qua hai năm đầu tư vừa qua, có thể thấy những tiến bộ, phát triển của y tế cơ sở, nhận được sự hài lòng của người dân tham gia điều trị tại đây.

MC: Xin hỏi ông Nguyễn Tất Thao: Bạn đọc Nguyễn Phạm Linh (Thành phố Thanh Hóa): Bên cạnh việc hiện đại hóa công tác giám định BHYT, việc xây dựng nguồn dữ liệu lớn về người tham gia BHXH, BHYT thời gian qua được tiến hành như thế nào?

Ông Nguyễn Tất Thao:

Trên cơ sở dữ liệu KCB BHYT của người tham gia BHYT của các cơ sở KCB gửi lên Cổng tiếp nhận dữ liệu Hệ thống thông tin Giám định BHYT, kết nối với các phần mềm giao dịch điện tử trên tất cả các lĩnh vực thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, BHXH Việt Nam đã xây dựng được kho dữ liệu để triển khai thực hiện giao dịch điện tử lĩnh vực BHYT như chỉ đạo của Chính phủ. Hệ thống Thông tin giám định BHYT được vận hành đồng bộ đã mang lại ích lợi không nhỏ cho cả ba bên là người dân, cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan BHXH. Theo đó, người dân khám chữa bệnh BHYT được giảm thiểu thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian khi đi khám chữa bệnh, chi phí KCB được minh bạch hóa. Người tham gia BHYT có thể được thông báo lịch sử đi KCB và chi phí mỗi lần KCB của minh.

Hiện nay, BHXH Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu (CSDL) không chỉ của người tham gia BHYT mà còn của người tham gia BHXH, BH thất nghiệp. Những CSDL này đã giúp ngành BHXH cải cách TTHC, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đồng thời xây dựng và hoàn thiện nguồn CSDL quốc gia về bảo hiểm, tạo nền tảng cho phát triển Chính phủ điện tử.

MC: Bạn đọc Lê Quang Hào (Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng cần phải nhấn mạnh rằng, hiện tỷ lệ bao phủ đã đạt gần 90%. Tuy nhiên, vận động tham gia đối với 10% dân số còn lại là cực kỳ khó khăn. Vậy các đại biểu có đề xuất gì về những nỗ lực để hoàn thành nốt con số 10% còn lại này?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Đấy là một vấn đề chúng ta phải thay đổi. Thay đổi cả phương thức tuyên truyền lẫn thay đổi cách thức dịch vụ của BHYT, để cho người dân vừa nhận thức được, đồng thời điều quan trọng là chúng ta phải tạo ra sự hấp dẫn, nói cách khác là tạo ra sự hài lòng của người dân đối với BHYT. Người dân thường nhìn vào kết quả thực hiện, nhìn vào việc làm của Nhà nước để quyết định tham gia hay không tham gia BHYT.

Chính đối tượng còn lại này (10%), tôi cho là khó khăn nhất, mà chúng ta cần tập trung để xử lý vấn đề này. Nếu 10% này tham gia, thì tỷ trọng quỹ BHYT sẽ chiếm tỷ trọng rất quan trọng. Do đó, theo tôi thì chúng ta cần tập trung vào hai giải pháp:

Thứ nhất là tuyên truyền làm thay đổi nhận thức rằng tham gia vào chính sách BHYT, đó chính là quyền và nghĩa vụ, nhưng cũng chính là việc thể hiện tính cộng đồng xã hội. Điều này là quan trọng, chúng ta cần làm sao để người dân nhận thức được việc tham gia là để xây dựng một cộng đồng xã hội tốt đẹp chia sẻ.

Thứ hai là, về phía Nhà nước, chúng ta phải thay đổi cách thức dịch vụ để nhận được niềm tin và sự hài lòng của người dân.

Tôi cho rằng, bài toán mà anh Toàn đưa ra rất là trúng và đúng. Nghị quyết 68 có một vấn đề nhấn mạnh rất sâu, đó là tập trung xã hội hoá, phát triển y tế cơ sở. Y tế cơ sở vô cùng quan trọng. Y tế cơ sở bao gồm trạm y tế xã, phường, thị trấn; trung tâm y tế huyện và bệnh viện đa khoa; và y tế tư nhân. Ba trụ cột này tạo thành y tế cơ sở, và đóng vai trò quan trọng và quyết định trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

Anh Toàn nói một điểm theo tôi là rất đúng, là chúng ta phải tập trung vào y tế cơ sở. Nghị quyết 68 cũng đã nêu rất rõ là dành nguồn lực đầu tư, về cả cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực cho y tế xã, phường, thị trấn và đặc biệt đối với miền núi, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo...

Theo tôi, ở miền núi hiện nay, chúng ta cần duy trì mô hình cô đỡ thôn bản, đây là một mô hình rất tốt. Ngoài ra bác sĩ gia đình cũng là mô hình tốt trên thế giới.

Bên cạnh đó, trạm y tế xã, phường, thị trấn cần phải chữa trị tốt những bệnh không lây nhiễm.

Cuối cùng là gói dịch vụ y tế cơ bản mà chúng ta đã xây dựng nhưng mới xây dựng cho tuyến xã. Theo tôi, bây giờ Chính phủ phải xây dựng cho tuyến tỉnh và Trung ương để tạo ra sự bình đẳng.

MC: Bạn đọc Trần Thị Thắng (Tiên Lữ, Hưng Yên) hỏi: Thưa ông Bùi Sỹ Lợi, theo ông, truyền thông về BHYT cần phải làm gì để nâng cao nhận thức của người dân, tạo sự chủ động tham gia, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật BHYT của các cơ sở y tế, nhất là trong bối cảnh công nghệ 4.0 như hiện nay?

Ông Bùi Sỹ Lợi:

Truyền thông rất quan trọng, người dân phải nhận thức vấn đề này. Quyền được an sinh xã hội, quyền được chăm sóc sức khỏe, nhưng quyền đó phải gắn liền với nghĩa vụ. Điều đó là quan trọng, người dân không nên dựa tất cả vào Nhà nước, không một chiều. Hiện nay, hình như người dân, trong chừng mực nào đó, trong nhóm người nào đó, vẫn nghĩ rằng được hưởng như vậy do Nhà nước lo là không đúng. Tránh bao cấp là vấn đề đầu tiên.

Thứ hai là, nhận thức người dân phải hiểu rằng, tham gia BHYT để chia sẻ để thực hiện nghĩa vụ cộng đồng, không nghĩ rằng mình tham gia để mình được hưởng lợi. Đây là chia sẻ và chính là đang thực hiện nghĩa vụ cho bản thân, cho xã hội, cho cộng đồng. Điều đó rất quan trọng, người dân cần phải có những chuyển biến về khái niệm chia sẻ như vậy.

Thứ ba, khi tham gia quỹ bảo hiểm y tế, người dân có nghĩa vụ giám sát, kiểm tra việc tổ chức triển khai thực hiện. Thí dụ, người tham gia đến bệnh viện được cấp thuốc không đúng, hoặc là dùng các thủ tục, thủ đoạn nào đó để thỏa thuận với nhau để rút quỹ, trục lợi, lạm dụng, thì phải có trách nhiệm giám sát, điều này rất quan trọng. Tôi nghĩ, cuối cùng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội và chính người dân phải tăng cường công tác kiểm tra - giám sát để chúng ta xây dựng một cộng đồng trách nhiệm.

Điểm quan trọng cuối cùng là, mỗi người phải thể hiện trách nhiệm của mình đối với bản thân mình và đối với xã hội. Công tác truyền thông của chúng ta, tôi mong làm sao đến tận ngõ, gõ tận nhà. Thực ra, trên hệ thống báo chí, nhiều người vẫn không đọc, không hiểu vấn đề này.

Nhiều người không hiểu tham gia bảo hiểm y tế có lợi như thế nào. Bảo hiểm y tế có mức đóng dưới 800 nghìn đồng/năm nhưng không may khi ốm có thể chi trả đến bạc tỷ. Người nghèo, nếu không được chi trả thế này thì làm sao có thể bảo đảm được cuộc sống, dễ bị kiệt quệ về kinh tế. Họ phải bán ruộng, vườn, nhà đi để chữa bệnh thì tại sao không tham gia BHYT.

Bảo hiểm y tế có nguyên lý là lấy số đông bù số ít, nên tôi nghĩ, phải nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với chính sức khỏe của mình và chính sức khỏe của xã hội. Điều đó rất quan trọng.

MC: Hỏi ông Phan Văn Toàn, Bộ Y tế: Bạn đọc Hà Mai Loan (thành phố Vĩnh Yên): Thời gian qua, có phản ánh một số cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế để lộ tài khoản và mật khẩu truy cập Cổng Tiếp nhận dữ liệu trên Hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế. Điều này dẫn đến một số cá nhân, tổ chức lợi dụng để khai thác thông tin. Vậy Bộ Y tế có giải pháp gì chấn chỉnh tình trạng này nhằm bảo đảm an toàn và bảo mật thông tin khám, chữa bệnh BHYT của người bệnh?

Ông Phan Văn Toàn: Trong năm 2019, đã có thời điểm, một cán bộ của một bệnh viện đã “để lộ” dữ liệu ra ngoài. Về điều này, Bộ Y tế đã phối hợp BHXH Việt Nam chấn chỉnh ngay, có những giải pháp và đồng thời có công văn yêu cầu tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh; bảo đảm nguyên tắc về bảo mật thông tin. Bên cơ quan công nghệ thông tin của BHXH Việt Nam cũng đã khắc phục “sự cố” này, không để xảy ra tình trạng này trong tương lai.

MC: Bạn đọc Phạm Minh Hải (Cầu Ngang, Trà Vinh) hỏi ông Nguyễn Tất Thao: : Cũng về lợi dụng để khai thác thông tin trong hệ thống giám định BHYT, có tài khoản của một cơ sở y tế có số lượng truy cập bất thường, hơn một triệu lượt/ngày. Người dân đi khám, chữa bệnh cũng khá lo lắng về việc lộ thông tin cá nhân về sức khỏe của mình. Ông có thông tin gì để người dân an tâm?

Ông Nguyễn Tất Thao:

Vừa qua, sau khi chúng ta phát hiện ra việc lộ thông tin của khám bệnh, chữa bệnh, BHXH Việt Nam cũng đang phối hợp Bộ Y tế để chấn chỉnh ngay và đề ra các giải pháp để thực hiện.

Về phía Bộ Y tế thì đã có văn bản gửi các cơ sở yêu cầu chấn chỉnh tình trạng đó.

Còn về phía cơ quan BHXH, hiện nay chúng tôi đã triển khai xác thực hai lớp khi các cán bộ của BHXH, cơ sở y tế đã được cấp tài khoản và phân quyền truy cập vào hệ thống thông tin giám định BHYT.

Cụ thể, người truy cập sẽ phải sử dụng mật khẩu OTP để có quyền truy cập, tương tự như khi chúng ta thực hiện giao dịch chuyển tiền trên internet banking hoặc mobile banking. Điều này sẽ tăng cường việc bảo mật thông tin cho người tham gia KCB BHYT tốt hơn, nhằm ngăn chặn việc truy cập bất hợp pháp các thông tin này.

MC: Bạn đọc Bùi Quang Đông (Pleiku, Gia Lai): Chính sách BHYT đã góp phần giảm chi trực tiếp từ tiền túi hộ gia đình cho dịch vụ y tế. Thống kê đến năm 2018 cho thấy, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 37%. Điều này có ý nghĩa như thế nào với người dân?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Đúng là câu chuyện chúng ta giảm tiền túi của người dân trong khám bệnh chữa bệnh BHYT. Đó là nguyên lý của BHYT, rõ ràng để cho người nghèo, cận nghèo không rơi vào tái nghèo và trở lại cận nghèo. Chúng ta phải dùng các biện pháp tăng mở rộng đối tượng, tăng sự chia sẻ để làm sao khi người yếu thế hoặc người nghèo, cận nghèo các cháu được chữa bệnh với tỷ lệ tối đa, nhưng không phải bỏ tiền túi, đấy là nguyên lý của BHYT.

MC: Thời gian tới, cần phải làm gì để tạo nên sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, nhất là với nhóm yếu thế trong xã hội như người nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Vâng, nhưng nếu muốn đạt được điều đó, có thể mức đóng sẽ phải cao lên, còn theo như mức đóng hiện nay với dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế với kỹ thuật cao và ngày càng hiện đại, mà chúng ta không đáp ứng được từ quỹ BHYT để chi trả thì người nghèo vẫn tiếp tục khó khăn. Do vậy, giải pháp của chúng ta, một là mở rộng đối tượng, hai là phải quản lý quỹ BHYT rất chặt chẽ, công khai, minh bạch, chi đúng, chi đủ. Đôi khi chúng ta chi không đúng, hoặc lạm dụng kỹ thuật chiếu chụp nhiều, chữa bệnh ít, hoặc khi đi chữa bệnh nằm phòng bệnh hiện đại hơn tiền chữa bệnh thì không đúng nguyên lý.

Vì vậy, mục tiêu của chúng ta phải giảm tiền túi chi của người dân đối với chính sách BHYT, đó chính là nguyên lý cơ bản mà đất nước nào cũng phải đi theo con đường đó.

MC: Thưa ông Phan Văn Toàn, bạn đọc Hoàng Hải Thanh (Vinh, Nghệ An) gứi tới chương trình câu hỏi sau: Có đề xuất cho rằng, người nghiện ma túy cũng là dạng bệnh, vì vậy cũng phải được BHYT thanh toán. Việc áp dụng chính sách này sẽ tạo cơ hội bình đẳng cho người tham gia BHYT. Ông có ý kiến gì về vấn đề này?

Ông Phan Văn Toàn: Về quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế, theo Luật, họ được khám bệnh chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ và sinh con. Luật BHYT năm 2008 cũng như Luật BHYT năm 2014 cũng đề cập đến nhiều phạm vi quyền lợi khác. Thí dụ, một quyền lợi rất hiệu quả nhưng cũng chưa đưa vào, đó là khám sàng lọc bệnh, rồi một số dịch vụ như dự phòng, sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ em suy dinh dưỡng nặng, nhiều nội dung cũng được nhận thấy là cần thiết. Còn đối với người nghiện ma túy, Luật quy định không thanh toán cho các trường hợp cai nghiện.

Thí dụ như, nghiện rượu hay ma túy nhưng điều trị cho các bệnh của bản thân người đó thì vẫn được bảo hiểm y tế thanh toán như bình thường. Đây là vấn đề đặt ra, cũng cần các nhà chính sách phải nghiên cứu để trong thời gian sửa Luật tới, dự kiến bổ sung một số quyền lợi khác nhưng cũng hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng cân đối cho hiệu quả.

*MC: Bạn đọc Đặng Mạnh (Thành phố Lạng Sơn) hỏi: Giải pháp nào để đồng thời nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT trong thời gian tới, đồng thời bảo đảm quyền lợi người tham gia? Chúng tôi xin mời ông Bùi Sỹ Lợi.

Ông Bùi Sỹ Lợi:

Giải pháp nâng cao chất lượng KCB BHYT là câu chuyện phải có kinh phí để tăng cường chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, nguồn nhân lực rất quan trọng. Sau đó là đầu tư nâng cao trang thiết bị kỹ thuật.

Chúng ta cần bảo đảm một số việc. Một là, bảo đảm về mặt trang thiết bị, thứ hai là đấu thầu thuốc công khai minh bạch, thứ ba là giá thuốc. Ba yếu tố này đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.

Bên cạnh đó, cần phải có những giải pháp tích cực mở rộng đầu tư để tăng điều kiện, khả năng chữa bệnh. Qua đó, hạn chế việc người Việt Nam phải đi ra nước ngoài chữa bệnh. Với điều kiện hiện nay, Việt Nam có thể chữa được rất nhiều bệnh, và cũng rất nhiều người từ bỏ việc ra nước ngoài chữa bệnh.

*MC: Xin hỏi ông Nguyễn Tất Thao, bạn đọc Nguyễn Tuấn Anh (Hai Bà Trưng, Hà Nội): Được biết, với các trường hợp gia hạn không cần in lại thẻ, dữ liệu về đóng BHYT được cập nhật trên hệ thống của cơ quan BHXH và liên thông với cơ sở khám, chữa bệnh. Vậy nếu có sai sót trong dữ liệu, người dân phải liên hệ cơ quan nào để bảo đảm quyền lợi của mình. Hiện trên Cổng dịch vụ công quốc gia có những thủ tục nào có thể thực hiện với thẻ BHYT?

Ông Nguyễn Tất Thao:

Với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thẻ BHYT, từ năm 2019, hệ thống của BHXH Việt Nam sẽ tiếp tục cập nhật dữ liệu người tham gia, không cần đổi thẻ sau mỗi năm như trước đây. Để biết giá trị sử dụng thẻ, người tham gia có thể chủ động tra cứu trên Cổng thông tin BHXH Việt Nam theo mã số ghi trên thẻ; danh sách cấp thẻ lưu tại đơn vị quản lý đối tượng... hoặc có thể gọi điện thoại trực tiếp đến tổng đài theo số 1900 96.96.68 để được giải đáp.

Trên cơ sở minh bạch thông tin tra cứu thẻ BHYT, người tham gia BHYT có thể chủ động được thời gian, địa điểm để quyết định đăng ký tiếp tục tham gia BHYT cho phù hợp.

Đối với các trường hợp đề nghị cấp lại hoặc đổi thẻ khi bị mất, rách, hỏng hoặc sai thông tin trên thẻ (nhân thân, đối tượng, mức hưởng…), người tham gia BHYT có thể liên hệ với cơ quan BHXH nơi phát hành thẻ, người đang làm việc có thể nộp cho đơn vị nơi đang làm việc. Thời gian giải quyết đối với các trường hợp cấp lại, hoặc đổi thẻ không quá ba ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định. Riêng các thẻ đề nghị cấp lại không phải thay đổi thông tin trên thẻ, cơ quan BHXH cấp lại trong ngày (24 giờ).

Từ ngày 9-12-2019, việc cấp lại thẻ bảo hiểm y tế do hỏng, mất là một trong tám dịch vụ công được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, và người dân có thể thực hiện ngay dịch vụ này ngay từ chiều 9-12, thời điểm khai trương, chính thức đi vào hoạt động của Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Trường hợp có sai sót, thay đổi thông tin trên thẻ BHYT, người dân đến cơ quan BHXH nơi phát hành thẻ BHYT để điều chỉnh thông tin. Hoặc có thể thông qua đơn vị/ cơ quan nơi làm việc hoặc đại lý thu BHYT để thực hiện giao dịch điện tử trên cổng thông tin của BHXH Việt Nam, hoặc qua các nhà cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng và giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH (các nhà cung cấp IVAN).

* MC: Bạn đọc Phạm Thị Hạnh (Quế Võ, Bắc Ninh) hỏi: Hiện tại, tôi mua BHYT theo hộ gia đình theo hộ khẩu tại Bắc Ninh nhưng đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội. Vậy tôi có thể nộp tiền mua BHYT tại nơi làm việc, hoặc qua ngân hàng được không. Hiện nay, việc mua thẻ BHYT hằng năm khá bất tiện do tôi phải mất công đi về quê nộp cho đại lý thu BHYT. Vậy BHXH Việt Nam có tính đến giải pháp nào thuận lợi hơn cho người tham gia BHYT không để đơn giản thủ tục này?

Ông Nguyễn Tất Thao:

Theo quy định của Luật BHYT, người dân có quyền Đối với trường hợp người tham gia BHYT theo hình thức hộ gia đình được đóng BHYT theo hộ gia đình tại đại lý BHYT trong phạm vi cả nước; được lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này. Có nghĩa là, người tham gia được đăng ký KCB ban đầu tại các cơ sở y tế tuyến xã, tuyến huyện và tương đương thuận lợi nhất với nơi làm việc và nơi cư trú.

Do đó, đối với trường hợp của bạn, bạn làm việc và sinh sống tại Hà Nội, bạn có đăng ký tạm trú dài hạn thì có thể có thể tiếp tục đóng BHYT tại đại lý thu gần nhất với nơi sinh sống.

Hiện nay, theo lộ trình cải cách thủ tục hành chính, BHXH Việt Nam đã và đang tiếp tục phát triển hệ thống dịch vụ công trực tuyến trên cổng dịch vụ công quốc gia tiến đến người dân có thể đóng BHYT qua dịch vụ công trực tuyến.

Ông Bùi Sỹ Lợi: Không nên tạo ra một thủ tục hành chính mà trong khi soạn thảo Luật, chúng ta bàn nhau rất kỹ, phải làm sao rất linh hoạt. Người tham gia có thể đóng ở đâu cũng được. Trên hệ thống cổng thông tin điện tử của Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải thể hiện, người tham gia đóng BHYT theo hộ gia đình hay theo cá nhân, không nhất thiết phải quay về Bắc Ninh hay quay địa phương nào. Bởi vì, đã thực hiện thông tuyến đến tuyến huyện rồi, và đến năm 2021 là thông đến tuyến tỉnh nữa. Rõ rang, việc này có thể thực hiện được. Việc cải cách thủ tục hành chính, công nghệ thông tin của Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải cố gắng đẩy nhanh, mặc dù đã rất tốt, nhưng những trường hợp như thế này cũng cần phải thông thoáng. Không chỉ BHYT, ngay cả BHXH cũng có thể chuyển tiền nộp BHXH trên điện thoại. Không cần bắt phải đóng ở nơi này nơi kia, không cần thiết, chỉ cần đóng theo mã số.

Ông Nguyễn Tất Thao: Theo quy định, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang thực hiện việc người tham gia bảo hiểm y tế sinh sống và làm việc ở đâu thì có thể tiếp tục đóng bảo hiểm y tế tại các đại lý thu gần nơi họ đang sống. Tôi có giải thích rõ hai trường hợp: Một là hộ khẩu ở Bắc Ninh và sinh sống ở Hà Nội, và đi làm có ký hợp đồng lao động không thời hạn hoặc có thời hạn từ ba tháng trở lên, thì sẽ phải tham gia BHYT theo đối tượng lao động đi làm việc. Khi đó, sẽ đóng theo nơi làm việc chứ không theo hộ gia đình. Nhưng còn trường hợp đi làm tự do, thì sẽ tham gia theo hộ gia đình, nhưng không cần về lại Bắc Ninh, mà chỉ cần đóng tại đại lý thu nơi gần nhất để tham gia.

MC: Xin mời ông Phan Văn Toàn, Phó Vụ trưởng Vụ BHYT, Bộ Y tế trả lời câu hỏi của bạn đọc Lê Nguyễn Anh (Nghi Xuân, Hà Tĩnh): Được biết, Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo Luật BHYT sửa đổi. Lý do của việc xây dựng dự thảo văn bản Luật quan trọng này là gì trong thời điểm hiện nay. Dự thảo Luật có những điểm nào đáng chú ý so với Luật BHYT hiện hành, thưa ông?

Ông Phan Văn Toàn: Sau năm năm thực hiện Luật BHYT sửa đổi và gần 10 năm thực hiện Luật BHYT, về cơ bản, Luật BHYT đã đáp ứng việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, quá trình triển khai cũng đã đáp ứng được nguyện vọng của bệnh nhân. Tuy nhiên, một số nội dung trong Luật BHYT cũng cần phải sửa đổi cho phù hợp với xu thế hiện nay.

Một số nội dung mà Ban soạn thảo đang biên tập sửa đổi như đối tượng tham gia BHYT, mức đóng BHYT cũng như phương thức thanh toán cần rất cụ thể. Lần này, dự kiến đưa vào dự thảo Luật có Hội đồng quốc gia về BHYT. Hội đồng này có trách nhiệm tư vấn cho Chính phủ, Thủ tướng cũng như các bộ, ngành để triển khai thực hiện các chính sách BHYT. Đây cũng mới chỉ là đề xuất ban đầu.

Trong luật hiện hành có ba phương thức thanh toán, nhưng thực tế mới chỉ triển khai được một phương thức. Bởi vậy, trong lần này soạn thảo dự thảo Luật, sẽ cần có những biện pháp quyết liệt để có thể triển khai được các hình thức thanh toán mà thế giới đang áp dụng. Đó là theo định suất, theo chữa bệnh và theo phí dịch vụ.

Về hình thức thanh toán theo phí dịch vụ, đây là phương thức tốt nhưng đồng thời rất khó kiểm soát. Còn theo trường hợp bệnh hay nhóm bệnh, từng trường hợp sẽ được ấn định giá nhất định trên cơ sở tính toán, điều này sẽ làm giảm việc xảy ra sự lạm dụng, trục lợi.

Về công tác giám định cũng đặt ra với các giám định viên. Hiện nay chưa có quy định về việc giám định hay chỉ định thuốc, không quy định chặt chẽ phải là bác sĩ, có bằng cử nhân hay các ngành nghề khác. Vậy nên, đôi khi, người làm công tác giám định chưa làm tốt công tác này. Từ đó, cần có những quy định cụ thể về giám định viên, về tổ chức thực hiện công tác giám định BHYT.

MC: Bạn đọc Huỳnh Phương Lan (thành phố Quảng Ngãi): Thưa ông Bùi Sỹ Lợi, ông có cho rằng việc sửa đổi Luật BHYT có cần thiết trong bối cảnh Luật mới thi hành được năm năm?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Mặc dù Luật BHYT mới được 5 năm nhưng phải sửa đổi vì có hai lý do.

Lý do thứ nhất là, chúng ta phải thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết số 20 của Trung ương là thay đổi cách thức, phương pháp. Và điều quan trọng là, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới.

Lý do thứ hai là mặc dù mới triển khai được 5 năm, nhưng chúng ta đã thấy xuất hiện những bất cập. Thứ nhất là BHYT bắt buộc, thứ hai là cùng chi trả, thứ ba là có nên có mô hình BHYT thương mại hay không, có kích thích, khuyến khích người đóng mức cao hơn để hưởng lợi cao hơn không... là những vấn đề hết sức quan trọng.

Bên cạnh đó, mô hình về tham gia BHYT theo hộ gia đình hay cá nhân sẽ như thế nào. Đây là những vấn đề cần phải nghiên cứu, xem xét và tính toán.

Và quan trọng nhất, tôi nghĩ phải cân đối mức đóng và mức hưởng.

Có một điểm anh Phan Văn Toàn chưa đề cập, nhưng cần nghiên cứu. Đó là luật hiện hành cho phép quỹ BHYT chỉ được dùng trong công tác khám bệnh và điều trị, vậy thì công tác y tế dự phòng có cần thiết không. Trong khi tôi cho rằng, đối với ngành y tế thì lại cần “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Việc sử dụng quỹ BHYT để chi cho công tác phòng bệnh là vấn đề phải nghiên cứu, tính toán để xem có cần thiết hay không.

Ngoài ra, còn những vấn đề về thủ tục hành chính, cải cách bộ máy... đặc biệt là giám định, giám định viên BHYT... cũng đang “có vấn đề”. Giữa Bộ Y tế và BHXH Việt Nam cũng đang có những vấn đề cần tổng kết với nhau.

Tuy nhiên, về việc sửa hay không sửa Luật BHYT, Chính phủ phải có tổng kết, báo cáo. Điểm gì tốt chúng ta phát huy, điểm chưa tốt thì phải sửa. Thêm vào đó, có lẽ, cũng phải nghĩ đến mô hình bác sĩ gia đình và gói dịch vụ y tế cơ bản, việc đấu thầu thuốc công khai, minh bạch.... là những vấn đề mà chúng ta cần nghiên cứu, tính toán thật kỹ.

MC: Xin hỏi ông Phan Văn Toàn, Bạn đọc Lương Ngọc Hà (Sơn Tây, Hà Nội): Dự thảo luật BHYT sửa đổi cũng yêu cầu tất cả thành viên thuộc hộ gia đình phải tham gia cùng một thời điểm, thay vì có thể tham gia từng cá nhân như hiện nay. Tuy nhiên, mức đóng của thành viên thứ hai trong gia đình sẽ bằng 80% của người thứ nhất, thay vì mức 70% như hiện nay. Như vậy, khi tăng lương cơ sở đều đặn, mức đóng BHYT trong thời gian tới sẽ tiếp tục tăng. Vậy ông có giải thích gì về đề xuất này?

Ông Phan Văn Toàn: Tất cả các thành viên trong một gia đình tham gia BHYT thì mức đóng sẽ được giảm dần, không quy định là cá nhân. Chính điều này cũng đang là vướng mắc hiện nay. Một số trường hợp cá nhân không có tên trong hộ khẩu nên rất khó để tham gia BHYT. Quy định hiện hành đang khó. Tuy nhiên, Nghị quyết của Quốc hội cũng có một số điều mở. Đó là giao cho Chính phủ quy định tham gia BHYT gia đình linh hoạt. Linh hoạt ở đây là không bắt buộc phải tham gia đúng thời điểm, mà có thể tham gia ở các thời điểm khác nhau.

Về tham gia theo cá nhân, hiện nay vẫn chưa có. Lần dự thảo tới đây cũng phải đề cập đến những người trong xã hội có một bộ phận không có tên trong sổ hộ khẩu cũng phải được tham gia BHYT. Thậm chí, có những trường hợp không có một loại giấy tờ gì cả cũng phải được tham gia BHYT. Hiện nay, những trường hợp này đang gặp khó khăn. Tuy nhiên, Chính phủ quy định linh hoạt là không tham gia theo thời điểm. Và hiện nay cũng đang có một điều quy định nếu không có giấy tờ gì có thể nộp ảnh để tham gia BHYT. Khi có ảnh rồi, người tham gia đi khám chữa bệnh không còn cần phải có bất cứ một giấy tờ gì cả. Như vậy, việc tham gia BHYT theo Luật hiện hành, hộ gia đình từ đó sẽ có quy định thêm theo cá nhân.

Còn mức giảm trừ theo hộ gia đình hiện nay giảm cao, người thứ hai đóng bằng 70% người thứ nhất, người thứ ba, thứ tư, thứ năm giảm dần, cho đến người thứ năm chỉ còn đóng có 40% thôi. Như vậy, việc giảm trừ này quỹ BHYT thu được đã tính trên mức lương cơ sở rồi lại còn giảm trừ chỉ còn đóng 40% thì mức đóng sẽ thấp so với nhu cầu về chi, không đáp ứng việc cân đối quỹ, thứ hai là dẫn đến tình trạng không công bằng. Điều này thể hiện ở chỗ: trong khi học sinh, sinh viên chỉ được hỗ trợ 30% BHYT, tức là phải đóng 70%, thì ở đây hộ gia đình trên mức sống trung bình, mức sống trung bình cũng được hỗ trợ 30% mà trên mức trung bình chỉ phải đóng trên 40%. Chính vì vậy, dự thảo đề xuất, nếu giảm chỉ giảm 80%, mức đóng phải cao hơn học sinh, sinh viên, mức đóng phải cao hơn mức đóng của hộ gia đình có mức sống trung bình.

Ông Bùi Sỹ Lợi: Tại sao lúc đầu có chính sách khuyến khích BHYT như vậy, bởi mục tiêu là muốn để đẩy nhanh tốc độ bao phủ BHYT. Bây giờ, quỹ BHYT chi rất cao, kỹ thuật rất tốt, yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân phải được nâng lên thì chúng ta phải điều chỉnh vấn đề này. Không nên để như thế được vì rõ rang, người tham gia muốn hưởng lợi cao thì phải đóng cao. Mức giảm trừ là để khuyến khích. Hộ nghèo không phải đóng, hộ cận nghèo được giảm là đúng. Còn các hộ trung bình phải tuân thủ nguyên tắc. Theo lộ trình, cũng phải tính toán đến lúc ai cũng phải đóng bình đẳng cả, không thể có ai giảm trừ. Người ốm đều như nhau. Tôi nghĩ, cũng phải đến lộ trình nào đó, bởi ai cũng phải đóng BHYT, đó là quyền và nghĩa vụ bình đẳng như nhau.

MC: Hỏi ông Nguyễn Tất Thao: Bạn đọc Trần Minh Anh (Ba Vì, Hà Nội): Vậy trong thời điểm hiện tại, quy định mức đóng BHYT theo hộ gia đình trong năm 2020 có gì thay đổi. Mức tăng theo lương cơ sở sẽ như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Tất Thao: Tại Điểm e Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17-10-2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT, có hiệu lực từ ngày 1-12-2018, mức đóng BHYT của đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình bằng 4,5% mức lương cơ sở, người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất, từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất. Việc giảm trừ mức đóng BHYT theo quy định tại điểm này được thực hiện khi các thành viên tham gia BHYT theo hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính.

Tại Điểm e Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT, có hiệu lực từ ngày 1-12-2018, mức đóng BHYT của đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình bằng 4,5% mức lương cơ sở, người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất, từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất. Việc giảm trừ mức đóng BHYT theo quy định tại điểm này được thực hiện khi các thành viên tham gia BHYT theo hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính.

Năm 2020, khi Nhà nước điều chỉnh mức lương cơ sở tăng lên 1,6 triệu đồng/1 tháng thì mức đóng BHYT của người tham gia BHYT theo hộ gia đình cũng tăng lên, cụ thể như sau:

- Người thứ nhất đóng bằng 1,6 triệu đồng x 4,5 % = 72.000 đồng/1 tháng (Mức đóng trước đây là 67.050 đồng/1 tháng, tăng 4.950 đồng/1 tháng hay 59.400 đồng/1 năm)

- Người thứ hai = 1,6 triệu đồng x 4,5% x 70% = 50.400 đồng/1 tháng (tăng 3.465 đồng/1 tháng = 41.580 đồng/1 năm)

- Người thứ ba = 1,6 triệu đồng x 4,5% x 60% = 43.200 đồng/1 tháng (tăng 2.970 đồng/1 tháng = 35.640 đồng/1 năm)

- Người thứ tư = 1,6 triệu đồng x 4,5% x 50% = 36.000 đồng/1 tháng (tăng 2.475 đồng/1 tháng = 29.700 đồng/1 năm)

- Từ người thứ năm trở đi = 1,6 triệu đồng x 4,5% x 40% = 28.800 đồng/1 tháng (tăng 1.980 đồng/1 tháng = 23.760 đồng/1 năm)

MC: Bạn đọc Nguyễn Thế Phong (Phủ Lý, Hà Nam) hỏi: Được biết, tại dự thảo Luật BHYT (sửa đổi) có đề xuất tăng mức đóng BHYT. Cụ thể, mức đóng BHYT hằng tháng, tối đa lên mức 6% lương cơ cơ sở, thay vì mức 4,5% như hiện tại. Trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3. Vì sao Ban soạn thảo đưa ra quy định này?

Ông Phan Văn Toàn: Thông tin của bạn đọc đưa ra như trên, tôi cũng xin nói thêm Luật BHYT hiện hành quy định mức đóng tối đa là 6%, giao cho Chính phủ quy định mức đóng cụ thể.

Hiện nay, Chính phủ đang quy định mức đóng là 4,5%, còn dự thảo luật lần này để mức đóng tối đa là 6% nghĩa là như cũ, như luật hiện hành chứ không có tăng.

Còn mức đóng hiện nay là 4,5%, vì mức đóng này đang giao cho Chính phủ quy định nên thông tin mức đóng 4,5% mà dự thảo luật đưa ra là 6% là đúng, nhưng mức đóng tối đa là 6% là Luật vẫn đang quy định như vậy.

MC: Thưa ông Bùi Sỹ Lợi, bạn đọc Hoàng Nguyễn (Thành phố Hà Tĩnh) hỏi: Ông có cho rằng, những điều chỉnh này dẫn đến tình trạng “tăng mức đóng, giảm quyền lợi” với người tham gia, trong khi chúng ta vẫn phải hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Tăng mức đóng thì đúng, nhưng giảm quyền lợi thì không đúng. Tại sao chúng ta lại phải cùng chi trả, đây chính là cơ chế để giám sát lẫn nhau. Bởi vì, nếu cùng chi trả 100% thì tôi không cần biết, vì Nhà nước trả tiền, tôi không cần phải quan tâm, thanh toán bao nhiêu là việc của BHYT. Còn bây giờ, tôi trả 5% là tôi phải giám sát, vì đụng đến 5% tôi phải đóng.

Ngoài ra, không thể có một đất nước nào có cơ chế BHYT 100% để hưởng lợi ở mức trần cao nhất là không đúng. Vì vậy, chúng ta khuyến khích mô hình BHYT thương mại bổ sung, để cho người có điều kiện tốt hơn thì được chăm sóc tốt hơn, đó là nguyên lý.

Nguyên lý của chúng ta là phải đóng cao, hưởng cao, còn mức đóng của anh ở trần này, đến bảo đảm dịch vụ y tế tối thiểu cần thiết, giống như sàn an sinh xã hội không được để ai dưới mức sàn đó, hay Mục tiêu thiên niên kỷ của chúng ta không để ai bỏ lại phía sau. Vì vậy, chúng ta phải có đóng góp, cống hiến và chia sẻ để nâng lên. Còn nói đóng cao mà quyền lợi thấp đi là không đúng. Nếu đóng cao mà quyền lợi thấp đi thì sinh ra chính sách BHYT để làm gì, các nhà hoạch định chính sách ở Quốc hội cũng không bao giờ phân tích bài toán hiệu quả kinh tế phương án đó. Đóng cao phải được hưởng cao, đó là nguyên tắc.

MC: Bạn đọc Trịnh Thủy Linh (Thành phố Hải Phòng) có hỏi: Liên quan đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế, có phải dự thảo đưa ra nội dung, khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám chữa bệnh không đúng tuyến chỉ được thanh toán 95% chi phí thay vì 100% như hiện hành. Vì sao lại có sự điều chỉnh này và có bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHXH?

Ông Phan Văn Toàn:
Theo Luật BHYT năm 2008 thì không có quy định này, nhưng Luật sửa đổi năm 2014 thì có quy định, tham gia BHYT đủ 5 năm liên tục và có số tiền cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh trong năm lớn hơn sáu tháng lương cơ sở thì không phải chi trả nữa, có nghĩa là được thanh toán 100%.

Dự thảo luật lần này thì có một cách tiếp cận mới, đó là hạn chế việc “bao cấp” - hay là hạn chế việc thanh toán 100%. Việc này cũng phù hợp với xu hướng các nước trên thế giới hiện nay, là cũng quy định người bệnh cùng chi trả, chứ không thanh toán 100%.

Điều này áp dụng không chỉ riêng đối với trường hợp tham gia đủ 5 năm mà sẽ có quy định người bệnh cùng chi trả đối với một số nhóm đối tượng khác nữa. Khi đã chi trả đủ 6 tháng lương cơ sở rồi, thì sau này sẽ được hưởng 95% và cùng chi trả 5% để bảo đảm tính chia sẻ trong việc sử dụng, cũng như là tham gia trong quá trình kiểm soát chi phí trong thanh toán BHYT.

Với gần 40 câu hỏi được trả lời trực tiếp tại giao lưu trực tuyến “Phát triển bền vững bảo hiểm y tế toàn dân”, trong thời gian hai giờ đồng hồ, các khách mời đã cung cấp cho độc giả những nội dung đáng quan tâm trong thực hiện chính sách BHYT như: mục tiêu phát triển bền vững BHYT tại Việt Nam, tăng sức thu hút của chính sách BHYT cũng như bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT, định hướng sửa đổi Luật BHYT và chính sách BHYT trong thời gian tới… Hy vọng, chương trình đã giúp độc giả hiểu hơn về những chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia BHYT, nhằm bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Nhân Dân điện tử